Có khi người ta nói “sống như đã chết” – vì họ sống mà vướng mắc, dính kẹt trong những trói buộc của thế gian. Trí khôn của họ đeo đuổi chạy theo ngũ trần nhục dục.
Dầu có khôn ngoan sáng suốt đến đâu nó chỉ khôn ngoan theo ý nghĩa của người thế gian. Dầu nó đem lại nhiều hạnh phúc đến đâu, đó chỉ là những hạnh phúc hiểu theo ý nghĩa của người thế gian, không thể đưa ta vượt ra khỏi thế gian.
Sở dĩ tâm ta còn chưa được an lạc là vì nó vẫn còn chứa chấp những thói xưa tật cũ. Chúng ta thừa hưởng các thói quen xưa cũ ấy từ những hành động trong quá khứ. Nó luôn dính liền và không ngừng quấy rầy ta. Ta tranh đấu, tìm lối thoát ra khỏi, nhưng nó đã trói buộc chặt chẽ và kéo lôi ta trở lại. Những thói quen ấy không quên những gì xưa cũ, thuộc phạm vi hoạt động của nó. Nó níu chặt, bám sát vào tất cả những sự vật quen thuộc củ để xử dụng, để vui thích ngắm nhìn và tiêu thụ; cuộc sống của chúng ta là vậy.
Ngày nào còn chưa nhận thức được giá trị của trạng thái giải thoát và chưa nhìn thấy đau khổ trong vòng trói buộc thì ta vẫn còn chưa có thể buông bỏ.
Đời sống giải thoát, đòi hỏi chúng ta phải hiện-thực một tâm-thức hoàn toàn tự do, không bị giới hạn bất cứ phương diện nào. Trong phương cách này, ta phải nhìn tất cả mọi hiện hữu với một tâm bình-đẳng (không định-kiến, so sánh, phê phán hay ngã chấp …), dù đó là triết-thuyết, lý-tưởng, hoặc ngay cả sự tiến bộ trong công phu tu tập. Chỉ như thế, ta mới có thể nhìn sự vật một cách khách quan được. Muốn tự do ta chỉ cần hai điều: tâm-hồn an lặng và trái tim cởi mở.
Nói đến “tu thiền” là người ta quen nghĩ đến tọa thiền (ngồi thiền). Thật ra đây chỉ là “một hình thức kỹ-thuật” để hổ trợ cho việc tu tập.
Gốc rể của mọi hạnh phúc và đau khổ chính là ở đây! Nên điều quan trọng trước tiên là “thiết-lập tâm”. Tâm của con người giống như một con ngựa hoang, nếu ta săn đuổi nó một cách hung hăng, nó sẽ hoảng sợ và không thể bắt được nó. Do vậy, hãy dẫn dụ nó theo nhiều cách khác nhau và giữ nó nhẹ nhàng, ta sẽ bắt được nó và có thể đưa vào làm việc. Tương tự, nếu tâm hoang-dã này bị kiểm soát một cách hùng hổ, thì vọng-tưởng, âu lo càng nhiều hơn, các chướng ngại sẽ xuất hiện và sản sinh vô số vấn đề như: sự mất quân-bình của năng lượng, sinh-lực của tâm. Nếu bằng một cách nhẹ nhàng, đặt tâm trong trạng thái tự-nhiên của nó, sử dụng nhiều kỹ thuật khác nhau, sự an-định đích thực sẽ xuất hiện trong dòng tâm-thức ấy.
Hầu hết chúng ta đều có những nỗi lo toan, sợ hãi. Chính điều này làm tâm trí chúng ta mờ mịt, lệ thuộc và bị ràng buộc bỡi tri kiến thế gian không thể có sáng tạo, không thể biết đến những hiểu biết vượt ngoài khả năng sẳn có của tri thức. Sáng tạo trong ý nghĩa này là mang một tính cách tiên khởi – nó tự phát, một cách tự nhiên, mà không thể bị hướng dẫn, bị ép buộc, bị kiểm soát.
Trong sợ hãi, chúng ta sẽ trở thành vô cảm và không quan sát được việc gì đang xảy ra một cách trọn vẹn đúng đắn chân thật ý nghĩa của nó. Chúng ta dễ dàng bị trói buộc bởi truyền thống, theo sau người lãnh đạo hay vị đạo sư nào đó; chúng ta đánh mất đi sự cao quý của một con người cá thể.
Người ta thường nói: nghe một âm thanh, một điệu nhạc, lời tâm-sự… và đối với sự yên lặng thì lại cho rằng “chẳng có gì để nghe” cả. Trong cuộc sống, sự yên-lặng là một thứ gì đó không được mấy ai quan tâm đến. Chúng ta chỉ quen sống với âm thanh và tiếng động, và không nghe được âm thanh tuyệt vời của sự yên-lặng mênh mông. Cũng như chúng ta chỉ biết chạy theo hình tướng và màu sắc với tất cả những sự biến dạng của chúng, nhưng không thể nghe thấy được tiếng gọi thật sâu thẳm của không gian vô tận. Chính sự xao lãng và lạc hướng đó là nguồn gốc đã gây ra mọi thứ khổ đau cho chúng ta.
1. Sự khác biệt giữa kiến thức và tri kiến.
Kiến thức gồm những thông tin góp nhặt từ bên ngoài mà mình chưa thực sự trải nghiệm, trong khi tri kiến là sự thấy biết qua những trải nghiệm thực. Kiến thức nhiều nhưng không thể nghiệm được dễ trở thành sở tri chướng. Nhưng tri kiến nhiều được đức Phật gọi là đa văn, đa văn lại rất cần thiết cho sự giác ngộ vì đó chính là phần tướng dụng của trí tuệ gọi là hậu đắc trí, còn tánh biết là vô sư trí.
... Bằng cấp Tiến sĩ đời hay đạo chỉ khác nhau ở môn học, còn Thánh hay phàm khác nhau ở sự tu chứng. Bậc Thánh có thể không biết chữ và không có bằng cấp nào nhưng họ lại giác ngộ Sự Thật về Sinh tử và Niết-bàn.