ÂM THANH CỦA SỰ YÊN LẶNG

Người ta thường nói: nghe một âm thanh, một điệu nhạc, lời tâm-sự… và đối với sự yên lặng thì lại cho rằng “chẳng có gì để nghe” cả. Trong cuộc sống, sự yên-lặng là một thứ gì đó không được mấy ai quan tâm đến. Chúng ta chỉ quen sống với âm thanh và tiếng động, và không nghe được âm thanh tuyệt vời của sự yên-lặng mênh mông. Cũng như chúng ta chỉ biết chạy theo hình tướng và màu sắc với tất cả những sự biến dạng của chúng, nhưng không thể nghe thấy được tiếng gọi thật sâu thẳm của không gian vô tận. Chính sự xao lãng và lạc hướng đó là nguồn gốc đã gây ra mọi thứ khổ đau cho chúng ta.

Con đường Phật-giáo giúp chúng ta trở về với chân thật chính mình, tìm hiểu con người của mình, ý thức được từng tư duy, từng ngôn từ và từng hành động của mình. Đó là cách tiếp cận sự sống “ngược chiều với sự xao lãng”, nói một cách khác là phải phát huy một sự chú-tâm cao độ hầu giúp chúng ta trông thấy được sự “sâu-thẳm của không gian” đang tỏa rộng trong tâm-thức, giúp ta tìm về với “tâm-thức nguyên-sinh” thật tinh-khiết và vắng lặng của chính mình.
Chính sự yên-lặng (hay tánh-không) là các khái-niệm có thể mở ra cho chúng ta một hướng nhìn khác hơn, mang lại một cái gì đó cho ta quan-sát, bởi vì cuộc sống đã làm vỡ tan sự yên lặng và xô sập cả không gian. Chúng ta đã tạo ra một xã hội bắt ta phải sống trong một tình trạng bị động thường xuyên, ta không còn cảm thấy là mình đang thật sống. Cuộc sống đó thật hối hả, sự thông-minh của bộ não giúp chúng ta nghĩ ra đủ mọi cách nhằm làm cho cuộc sống dễ chịu hơn, thế nhưng trên thực tế thì chúng ta luôn mệt mỏi.
Dường như chúng ta luôn cảm thấy mình không thể nào ngồi yên được, cần phải làm một cái gì đó để lấp đầy sự yên-lặng, tạo ra các hình tướng để lấp đầy không gian… Xã hội chỉ xem trọng những người mang một cá-tính rõ rệt, một bản-lĩnh biểu lộ được giá trị của họ. Đó cũng chỉ là sự chạy đua của kẻ mạnh, sự xoay vần của một chu kỳ bất tận, khiến ta bị căng thẳng triền miên. Chúng ta cũng có thể sẽ cảm thấy chua chát vì không tìm thấy được lạc thú và những sự toại-nguyện mà sự sống đáng lý ra phải mang lại cho mình. Tóm lại, chúng ta phải luôn tìm đủ mọi cách để chứng tỏ khả-năng của mình, cho thấy mình là một “con người nào đó”, và chính vì thế mà ta phải luôn phục tùng tất cả những gì mà cá-tính của ta bắt mình phải thực hiện.
Thật ra, cá-tính hay tính-khí con người vốn lệ thuộc vào tâm thức. Chúng ta không sinh ra với một cá-tính nào cả. Nếu muốn trở thành một “cá nhân” nào đó thì chúng ta phải suy nghĩ và hình dung mình là một con người nào đó. Chẳng hạn như là một người tốt hay xấu, hoặc là một sự tổng hợp pha trộn đủ mọi thứ khác nhau, tính-khí thay đổi liên tục dưới sự chi phối của nghiệp, khi nó tác động với các bối cảnh bên ngoài và tạo ra các nét cá-tính khác nhau. Cá-tính phát sinh từ ký ức, từ khả-năng nhớ lại lai-lịch của mình, từ các quan điểm về chính mình – cho rằng mình đẹp hay xấu, dễ thương hay đáng ghét, thông minh hay ngu đần – và cách nhìn đó về chính mình sẽ liên tục biến đổi tùy thuộc vào các bối cảnh xảy ra dưới các hình thức ký-ức, trí nhớ, kỷ niệm – nó tác động với cơ-duyên tạo ra tính-khí của mình, cái tính-khí luôn biến đổi đó không thể là “cái tôi” hay “cái ngã” của chúng ta.
Trái lại, nếu phát huy được một khả năng suy-tư bén nhạy thì chúng ta sẽ có cơ hội nhìn thấy xa hơn. Chúng ta sẽ thực hiện được các kinh nghiệm, cảm nhận về “tâm-thức nguyên sinh” tức là tri-thức của chính mình trước khi nó bị chi phối bởi các sự cảm-nhận của mình. Các sự cảm nhận của ngũ giác-quan và tâm-thức sẽ làm cho “tri-thức nguyên sinh” ây bị méo mó và ô nhiễm, và biến nó trở thành “cái tôi” hay “cái ngã” của chính mình.
Nhưng nếu cứ ra sức tìm hiểu về cái tâm-thức nguyên sinh ấy, chúng ta sẽ khó tránh khỏi rơi vào cạm bẫy giăng ra bởi khả năng lý-luận. Tính cách nhị-nguyên của sự suy nghĩ và lý luận có thể sẽ làm cho chúng ta trở thành đối-tượng của sự suy nghĩ hay lý luận. Cho nên, với cái “tri-thức nguyên sinh” ấy, ta chỉ có thể cảm được nhận một cách trực tiếp mà thôi. Do đó, tốt hơn hết là chỉ nên quan sát và lắng nghe; thay vì tìm cách khám phá ra phương cách phải làm thế nào để đạt được sự giác-ngộ. Ngay cả việc hành thiền nhắm vào chủ đích tìm kiếm sự giác-ngộ cũng sẽ không mang lại một kết quả nào, bởi vì khi ấy chúng ta vẫn còn tìm cách đạt đến một kết quả nào đó, thì chúng ta sẽ vẫn còn tạo ra cho mình một “cái tôi” trong thể dạng vô-minh của nó.
Chúng ta không nên chỉ biết phản ứng căn cứ vào những thứ ảo-giác do chính mình tự tạo ra, cũng không căn cứ vào những sự suy nghĩ vay mượn từ vốn liếng hiểu biết của mình. Nếu muốn thực hiện được điều đó thì chúng ta phải tập “lắng nghe cho được sự yên-lặng”. Điều đó sẽ giúp ta đương đầu với các thói quen, các sự xao-động (trên thân xác) và các xúc-cảm (trong tâm-thức) đang chi phối sự sinh-hoạt thường nhật của mình.
Chỉ đến khi nào chúng ta hướng được sự “chú tâm vào sự yên lặng”, thì ta sẽ lắng nghe được sự suy-nghĩ của mình. Khi suy nghĩ thì người ta cũng nghe thấy được là mình đang suy nghĩ, đồng thời cũng sẽ nghe thấy cả âm thanh của sự yên-lặng. Khi tâm thức cảm-nhận được sự yên-lặng, thì đấy là “thể dạng nguyên-sinh” của chính nó. Trong thể dạng đó không còn một tư-duy nào, không có một “cái tôi” nào hiện lên, mà chỉ là một sự trống không (hay tánh-không) tuyệt đối mà thôi. Tánh-không không hề có nghĩa là tự cô lập hay chối bỏ bất cứ một thứ gì, mà chỉ là sự buông bỏ các xu hướng quen thuộc đang chi phối các sinh hoạt không ngưng nghỉ và các tư duy dồn dập của chúng ta trong cuộc sống thường nhật.
Thật vậy, chúng ta không cần phải nhắm mắt, bịt tai hay cách ly với những sinh hoạt chung quanh, không cần phải luyện tập trong một nơi nhất định nào cả, mà có thể là ở bất cứ nơi nào và trong hoàn cảnh nào. Từ đó, sự luyện tập sẽ không gặp phải một khó khăn nào, dù là chúng ta đang phải sống chung với một tập thể hay trong khung cảnh gia đình, khi mà cuộc sống ấy đã trở thành tập-quán riêng của mình. Vượt qua các hoàn cảnh mà chúng ta thường có thói quen sinh-hoạt dựa vào các định-kiến và hình ảnh (sự hình-dung và tưởng-tượng) mà chính mình cũng không hề có ý-thức nó . Đây chính là dịp mà sự yên lặng của tâm-thức đánh thức sự quán-thấy của chúng ta trước các điều kiện trói buộc ấy. Khi nào hiểu được rằng tất cả mọi hiện tượng đều “hiện ra để mà biến mất đi”, thì chúng ta cũng sẽ nhận thấy rằng tất cả các tư-duy và hình ảnh mà mình tạo ra để gán cho là mình và người khác đều là do từ tâm-thức tạo dựng ra (do thói quen, thời gian và ký ức) và mình thì không hề là những thứ ấy.
Chúng ta chỉ cần biết được những gì “không thật là mình” thì cũng là đủ. Mọi vấn đề rắc rối đều phát sinh từ việc chúng ta tin rằng “mình là tất cả những thứ ấy”, nhưng thật ra thì ta lại không phải là những thứ ấy, đấy chính là nguyên nhân mang lại khổ đau cho mình. Chúng ta khổ đau là vì lúc nào cũng cảm thấy mình là một cá nhân nào đó. Nên chỉ khi nào mình không còn phải là “một con người nào” cả, thì khi ấy chẳng những ta sẽ không có một sự khổ đau nào mà còn là cả một sự nhẹ nhõm, tương tự như “trút bỏ được gánh nặng tạo ra do bởi chính cái ngã” của mình và sự sợ hãi trước cái nhìn của kẻ khác.
Tất cả “gánh nặng” ấy phát sinh “từ cảm-tính cho rằng mình có một cái-tôi”, vì thế chúng ta cũng nên buông bỏ cái gánh nặng ấy xuống. Chỉ cần buông bỏ nó và đơn giản chỉ có vậy. Thật là nhẹ nhàng thanh thản bao nhiêu khi cảm thấy mình không phải là “một con người nào” cả! Khi ấy ta không còn thấy mình phải đương đầu với mọi thứ khó khăn, như phải gắng sức luyện tập thiền-định liên tục hầu thoát ra khỏi tình trạng đó, hoặc cảm thấy mình phải được giải-thoát nhưng không sao đạt được sự giải-thoát ấy? Tất cả những thứ ấy đều cũng chỉ là các sản phẩm do tư duy tạo tác ra. Đấy là cách tạo dựng ra các sự suy nghĩ về mình, tức là do các thói quen phán đoán liên tục nhắn bảo với mình là mình không được hoàn hảo lắm, còn phải cố gắng hơn nữa.
Chúng ta hãy lắng nghe; khả năng “nghe” của ta lúc nào cũng sẵn sàng. Thiết nghĩ trong giai đoạn mới khởi sự tu tập, âm thanh của sự yên-lặng sẽ không có vẻ gì là hấp dẫn lắm so với các thói quen, sự yên lặng không đủ sức thu hút hay chinh phục ta so với các thói quen suy-nghĩ đã ăn sâu vào tâm-thức từ trước. Thật ra, dù là đang nghe một bản nhạc, nhưng chúng ta vẫn có thể lắng nghe được sự yên-lặng. Nó không hề phá hỏng âm điệu của bản nhạc mà ta đang nghe, chúng ta có thể vừa thưởng thức âm thanh và nghe cả sự yên-lặng.
Người ta thường nói: sự yên-lặng, tánh-không và vô-ngã không phải là những gì mà ta phải đạt cho bằng được, mà thật ra là chúng ta phải làm sao loại bỏ tất cả mọi “sự thèm-khát” của mình. Dù mang bất cứ ý nghĩa nào, thì tất cả những thứ ấy cũng đều là các hình thức “chống lại sự yên-lặng”. Cho nên, chúng ta phải hủy diệt tất cả các điều kiện trói-buộc, từ âm-thanh đến hình tướng. Không nên để cho bất cứ một hình tướng nào còn sót lại trong gian phòng này, ngoài những bức tường trắng toát. Trong một bài kinh, Đức Phật nêu lên phép thiền-định về sự an-trú trong Tánh-Không qua những phép tập trung sự cảm-nhận: nếu tập trung sự cảm-nhận về gian tịnh xá thì chỉ cảm nhận gian tịnh xá hoàn toàn trống không; nếu tập trung sự cảm nhận về rừng thì chỉ cảm nhận toàn là rừng; nếu tập trung sự cảm nhận về đất thì chỉ cảm nhận toàn là đất; tiếp theo là các sự tập trung sự cảm-nhận về không-gian vô tận, về tri-thức vô tận, về hư vô…v.v. cho đến không-cảm-nhận, nhưng cũng không-phải-là không-cảm-nhận và sau cùng là cảm-nhận về thể dạng tập trung tâm thần không chủ đích. Đây là một lời dạy rất thực tiễn, vô cùng cao siêu và sâu sắc, nó giúp chúng ta trực tiếp áp dụng khái-niệm về tánh-không do chính Đức Phật thuyết giảng vào việc “biến cải tâm-thức” cho chính mình.
Chúng ta sẽ phải cần đến sự chú-tâm và sự cảm-nhận về thực-tại. Cuộc sống này trói chặt chúng ta với thân xác, sự lệ thuộc đó thật hết sức nặng nề. Suốt đời, chúng ta phải sống giam mình trong các khả năng hạn hẹp của thân xác, phải đối đầu với mọi chướng ngại và khó khăn phát sinh từ thân xác như khuyết tật và ốm đau .v.v.. Đấy là chưa nói đến mọi thứ xúc cảm bên trong tâm thức! Chúng ta buông mình vào các thứ thú vui giác-cảm cũng như các sự cảm-nhận đớn đau trong suốt cuộc sống này. Tuy nhiên, chúng ta cũng có thể nhìn vào các thứ ấy theo một chiều hướng khác hơn, đó là chiều hướng mà Đức Phật đã chỉ dạy cho chúng ta, ấy là: phải nhìn vào mọi sự vật đúng như chúng “đang-là”, và cũng nên để cho chúng được là như thế, đúng với bản chất của chúng “là như thế”. Dù đó là nguyên nhân của khổ đau nhưng cũng chỉ là nhất thời mà thôi, và chúng không hề hàm chứa một thật thể nào cả. Thay vì phải tìm cách gán cho chúng một giá trị hay một sự quan tâm nào đó khiến chúng bị biến dạng đi, như thế, nó chỉ tạo ra thêm khổ đau cho mình mà thôi.
Chỉ vì vô-minh nên chúng ta thường xuyên tạo ra những hình ảnh lệch lạc về những gì xảy ra trong cuộc sống, về thân xác mình, các sự hồi tưởng của mình, lời ăn tiếng nói của mình, các sự cảm nhận của mình, quan điểm của mình, văn hóa và các tập quán tôn giáo của mình – nó khiến mọi sự trở nên vô cùng phức tạp, khó khăn và đối nghịch nhau. Những sự điên rồ đó đều phát sinh từ sự ám ảnh về “cái tôi” mà ra.
Khái niệm về anatta hay vô-ngã thường bị hiểu sai. Nhiều người cho rằng cần phải chối bỏ “cái tôi” như là một thứ gì xấu xa và phải tháo gỡ nó. Thế nhưng đấy không phải là “cách vận-hành” của vô-ngã. “Vô-ngã” chỉ đơn giản như một “sự gợi ý” trong tâm-thức, nó là một lợi khí giúp ta suy nghĩ xem ta đích thật là gì. Và sau một thời gian luyện tập thì ta sẽ không còn xem mình là bất cứ một thứ gì nữa cả. Nếu đẩy sự lý-luận đó đến chỗ tột cùng, thì chúng ta sẽ nhận thấy rằng thân xác, xúc-cảm, ký-ức, và tất cả những gì là “chúng ta” hay “của chúng ta” thật ra cũng chỉ là các hiện-tượng mà thôi, và đặc tính của hiện-tượng là liên tục hình thành, tồn tại trong một thời gian và sau đó thì biến mất. Khi nào hoàn toàn ý-thức được sự kiện mọi hiện tượng tất sẽ phải biến mất đi một lúc nào đó, thì chúng ta cũng sẽ nhận thấy thật rõ ràng là tình trạng ám ảnh và bám víu của mình đối với những thứ ấy thật phù du. Chúng ta cần phải luyện tập để có thể vượt lên trên các chướng ngại tạo ra bởi các sự ám ảnh về “cái tôi” hay “cái ngã” của mình.
Sự sống là một dòng luân lưu và biến đổi liên tục. Có lúc thì ta cảm thấy mệt mỏi, có lúc thì bị tràn ngập bởi mọi thứ xúc cảm, như giận dữ, ganh tị, sợ hãi, mọi thứ thèm khát, hoặc những thứ xúc cảm thật kỳ lạ mà chúng ta không hoàn toàn hiểu hết được. Thế nhưng tất cả những thứ ấy đều là một “tiến trình chung của sự sống”. Chúng ta phải tìm cách nhận diện các hiện tượng mỗi khi chúng hiện lên, hầu có thể quan sát bản-chất của chúng: tốt hay xấu, hoàn hảo hay khiếm khuyết. Dù sao thì tất cả những thứ ấy cũng chỉ mang tính cách giai đoạn, nói cách khác là chúng cũng sẽ biến mất, tương tự như chúng đã hiện ra. Đó là cách mà chúng ta phải thường xuyên ý-thức, hầu phát huy sức mạnh nội-tâm giúp ta gỡ những mối dây của nghiệp trói buộc mình.
Chúng ta đều công nhận không thể nào chủ động hay lèo lái sự sống hầu mang lại cho mình những gì đẹp nhất, nhưng chúng ta cũng hiểu rằng sự sống cũng hàm chứa những chiều kích sâu rộng hơn những thứ ấy rất nhiều, sự sống không phải chỉ gồm có các điều tốt đẹp hay xấu xa, may mắn hay xấu số, sung sướng hay bất hạnh, những thứ ấy chỉ biểu trưng cho một khía cạnh của sự sống. Chỉ khi nào vượt lên trên được những khía cạnh chi phối bởi bản-năng ấy, thì khi đó chúng ta mới cảm nhận được những sự rung cảm thật sâu xa – như một thứ hạnh-phúc mà mình không thể mô tả được bằng lời – một sự mở rộng trong con tim, trong tâm thức mình, khiến mình có cảm giác sự sống cũng là chính mình, trong sự sống đó còn có cỏ cây, có những côn trùng nhỏ bé, có những con người khác hơn với mình, có những sinh linh trong cõi vô hình, có những sinh linh trước đây từng hiện hữu như mình nhưng nay đã khuất…
Chúng ta có thể rơi vào một sự yên lặng mà trong đó tất cả mọi thứ đều trở thành “một”. Tương tự như không gian trong gian phòng này. Không gian là như thế, bên trong nó mọi hình tướng hiện ra và biến mất đi, thế nhưng nó cũng có một thứ gì đó mà chúng ta có thể trông thấy nó và ngắm nhìn được nó. Thế nhưng sau khi ngắm nhìn nó, ta càng phát huy sự cảm-nhận ấy về không gian và chúng ta càng cảm thấy một sự mênh mông tỏa rộng, bởi vì không gian không có khởi thủy cũng không chấm dứt. Như thể là: chúng ta có thể thiết kế các gian phòng và trông thấy không gian trú ngụ bên trong các gian phòng ấy, thế nhưng chúng ta cũng hiểu rằng cả tòa nhà cũng nằm trong không gian. Vì thế không gian cũng tương tự như một thứ gì vô tận, không có một biên giới nào cả. Thế nhưng trong giới hạn của tri-thức, thị-giác thì lại có ranh giới, và cũng nhờ đó mà chúng ta có thể trông thấy không gian của một gian phòng, bởi vì không gian vô tận quá lớn đối với chúng ta. Thế nhưng cái khoảng không gian hạn hẹp đó [của một gian phòng] cũng đủ để giúp chúng ta quán thấy được sự liên hệ giữa hình tướng và không gian.
Âm thanh của sự yên lặng cũng vận hành theo cách đó, đối với các tư-duy. Nó giúp chúng ta cảm nhận được tự nhiên (sự liên hệ giữa âm thanh và sự yên lặng, cũng tương tự như sự liên hệ giữa hình tướng và không gian). Một người xao lãng chỉ nhận thấy hình tướng nhưng không trông thấy không gian, chỉ nghe thấy âm thanh và tiếng động nhưng không nghe thấy sự yên-lặng đang tỏa rộng. Tuy nhiên, đôi lúc chúng ta cũng thoáng thấy được một sự yên-lặng mênh mông nào đó, chẳng hạn như trong một gian phòng kín cửa hay một nơi vắng vẻ, hoặc nhận thấy một không gian bát ngát như khi đứng trên đỉnh một đồi cát giữa sa mạc hay trên một mỏm đá của một đỉnh núi cao.
Sự yên lặng mênh mông và không gian bát ngát đó cũng có thể sẽ khiến chúng ta cảm thấy một chút choáng ngợp hay sợ hãi nào đó, bởi vì chúng ta thường quen sống với tiếng động và âm thanh, với các khoảng không gian chật hẹp. Thói quen lấp đầy tâm thức mình bằng các thứ tư duy và xúc-cảm phát sinh từ các sự cảm nhận về hình tướng, mùi, vị, âm thanh và sự đụng chạm, những cảm nhận hỗn độn đó đã che lấp sự trong sáng và phẳng lặng của “tri thức nguyên sinh”.
Hãy cảm-nhận cho được về không gian vô tận, sẽ giúp chúng ta khám phá ra các chiều kích vô biên của tâm-thức. Luyện tập về các cách mang lại các tư-duy trung hòa, chẳng hạn như cảm nhận “tôi là một con người” (không phải là một cá nhân hay một nhân vật nào cả), trong con người đó không hề dấy lên một sự xúc-cảm nào. Chúng ta lắng nghe một suy nghĩ, và cố gắng chỉ nghe thấy tư-duy ấy, chỉ tư-duy về sự yên lặng bao quanh nó. Đấy là cách chúng ta quan sát được sự liên hệ giữa khả năng suy-tư và sự yên-lặng tự nhiên của tâm-thức. Bất cứ một con người nào cũng có thể thực hiện được khả năng cảm-nhận đó. Việc này sẽ khó khăn hơn nhiều nếu tâm-thức chúng ta còn tràn ngập xúc-cảm, có nghĩa là mình chưa làm chấm dứt được các sự “thèm muốn được chiếm-hữu”, thèm muốn các giác-cảm, tóm lại, là chưa buông-bỏ được tất cả mọi thứ chuyện.
Chính vì thế nên chúng ta phải cố lắng nghe và quan sát những gì xảy ra mỗi khi sự yên-lặng hiện lên, tuy rằng sự yên-lặng đó cũng có thể mang tính cách tiêu cực, chẳng hạn như: “Tôi phải làm gì bây giờ!” hoặc “Thật là mất hết thì giờ!”. Đây chỉ là các phản ứng theo thói quen phát sinh từ tâm-thức của chúng ta. Khi nào nhận biết được sự thực ấy và chấp nhận nó, ta sẽ nhận thấy các phản ứng đó sẽ tự nhiên chấm dứt. Các phản ứng xúc-cảm sẽ dần dần tan biến hết và chúng ta sẽ nhận thấy thật sáng-tỏ rằng mình chỉ là “như thế” và cái “như thế ấy” của mình cũng chỉ là một thứ gì đó có khả năng ý-thức, thế thôi!.
Chính vào lúc đó, chúng ta có thể tạo ra một nền tảng vững chắc cho toàn bộ cuộc sống của mình, dựa vào quyết tâm thực hiện những gì tốt đẹp và không làm điều ác. Quả đây cũng là một điều nghịch lý khi chúng ta cảm-thấy cần nâng cao giá trị của chính mình. Vì thế, chúng ta cũng không nên tự nhận diện mình qua các thứ ấy hay bám víu vào chúng. Tuy nhiên thiền định cũng có thể giúp chúng ta nhận biết được những gì trong tầm tay của mình chỉ là như thế, và các điều kiện trói buộc mình cũng chỉ là như thế. Đôi khi cũng phải tôn trọng và chấp nhận cả những sự bất lực của chính mình.
Biết tôn trọng và chấp nhận “cái ngã” cũng có nghĩa là biết tôn trọng và chấp nhận các điều kiện đang đeo bám mình trong kiếp sống này, và điều đó cũng có nghĩa là nên tôn trọng và chấp nhận các điều kiện ấy đúng với chúng là-như-thế, dù chúng có to lớn (thuận lợi) hay bé nhỏ (khó khăn) cũng vậy. Điều đó không có nghĩa là phải yêu quý chúng mà là phải chấp nhận chúng như một cơ-sở căn-bản giúp chúng ta luyện tập, dù cơ sở đó hạn hẹp đến đâu đi nữa.
Một tâm thức giác-ngộ thì không hề có tìm cách đạt được những gì tốt đẹp nhất trong cuộc sống. Tâm thức ấy không đòi hỏi bất cứ gì, như là: phải có một sức khỏe tốt nhất, các điều kiện tốt nhất, hoặc bất cứ một thứ gì khác tốt nhất, hầu giúp nó đạt được thể dạng giác-ngộ ấy của nó. Vì đó cũng chỉ là những gì khiến làm dấy lên cảm-tính “mình là một con người chỉ có thể hành động hữu hiệu khi nào hội đủ các điều kiện tốt nhất”. Khi nào bắt đầu hiểu được rằng sự yếu kém và các khiếm khuyết của mình, cũng như tất cả các đặc tính khác của mình, không hề tạo ra một chướng ngại nào, thì khi đó chúng ta mới có thể nhận thấy mọi sự vật một cách đúng đắn được, và khi đó chúng ta mới có thể tôn trọng và sẵn sàng xem chúng như một phương tiện giúp mình vượt lên trên mọi sự bám víu.
Nếu biết luyện tập theo cách đó thì chúng ta sẽ thoát ra khỏi mọi sự nhận diện và không bám víu vào các hình ảnh mà mình tạo dựng về chính mình. Đó là cách sử dụng toàn bộ các phương tiện mà sự sống đã ban cho mình và sự luyện tập mang lại sự giác ngộ cho mình, nó chỉ chấm dứt kể từ giây phút mà “ta không còn hiện hữu trong thế giới này nữa”.
Sự giác-ngộ luôn luôn chỉ là một thứ. Người ta thường cụ thể hóa và gọi sự giác-ngộ của Phật-giáo bằng mọi thứ tên gọi và hình ảnh khác nhau: chân như, Phật tính, tâm thức nguyên sinh, Ngộ (Satori), ánh sáng trong suốt của cái chết, thể dạng Như-lai, v.v… Thật ra, giác-ngộ chỉ là một “sự hiểu-biết” còn gọi là Trí-tuệ, đó là sự hiểu biết sáng tỏ và tường tận về bản-chất của chính mình, của tâm-thức mình và sự vận-hành của nó; của thế giới và các quy-luật chuyển động và hình thành của các hiện tượng trong thế giới này. Một cách cụ thể là sự hiểu-biết ấy sẽ giúp chuyển hóa mọi nghiệp-quả trong quá khứ và các nghiệp mà mình đang tạo ra cho mình trong hiện tại, nói một cách khác là trút bỏ được gánh nặng của các hậu-quả mang lại từ sự xao-lãng của chúng ta hầu giúp ta khả năng nghe được “âm thanh của sự yên lặng” và “sự bát-ngát của không gian vô biên” hiển hiện trong tâm thức của chính mình.

Ajahn Sumedho 

Trích – ÂM THANH CỦA SỰ YÊN LẶNG
  Hoang Phong chuyển ngữ

Vài lời ghi chú của người dịch.


Điểm đáng lưu ý nhất trong bài thuyết giảng trên đây là nhà sư Sumedho đã cụ thể hóa sự "Giác Ngộ" bằng "âm thanh của sự yên lặng" và sự "vô tận của không gian" giúp chúng ta dễ hiểu hơn về việc tu tập của chính mình. Khi nào nghe thấy "âm thanh của sự yên lặng" và trông thấy được sự "vô biên của không gian" thì chúng ta cũng sẽ nhận thấy được sự xao lãng kinh hoàng của những người chung quanh ta, rộng hơn nữa là của toàn xã hội và sự sinh hoạt của các tập thể con người trên hành tinh này.
Chúng ta chỉ sống với âm thanh và tiếng động, nhưng không nghe được âm thanh tuyệt vời của sự yên lặng mênh mông. Chúng ta chạy theo màu sắc và hình tướng với tất cả những sự biến dạng của chúng, nhưng không nghe thấy được tiếng gọi thật sâu của không gian vô tận. Những sự xao lãng và lạc hướng đó gây ra mọi thứ khổ đau cho mỗi người chúng ta và cả nhân loại.
Con Đường Phật giáo giúp chúng ta trở về với chính mình, tìm hiểu con người của mình, ý thức được từng tư duy, từng ngôn từ và từng hành động của mình. Đó là cách tiếp cận sự sống ngược chiều với sự xao lãng, nói một cách khác là phải phát huy một sự chú tâm cao độ hầu giúp mình lắng nghe "âm thanh của sự yên lặng" và trông thấy được sự "sâu thẳm của không gian" đang tỏa rộng trong tâm thức mình, giúp mình tìm về với "tâm thức nguyên sinh" thật tinh khiết và vắng lặng của mình.
Thật vậy, chúng ta chỉ biết sống với gió, với bão tố và cuồng phong nổi lên trong tâm thức. Thế nhưng nếu ý thức được là gió tự nó không có âm thanh, màu sắc hay hình tướng gì cả, nhất là đối với một ngọn gió hoang thì lại càng không biết là nó từ đâu thổi đến và sẽ thổi đi đâu, thì chúng ta sẽ hiểu rằng tâm thức mình chỉ là một sự vắng lặng, gió và bão tố không mang một thực thể nào cả, mà chỉ là những gì mình tự tạo ra để khuấy động tâm thức mình mà thôi.
Nếu chúng ta cột được gió hay nhốt được nó vào một gian phòng thì đấy chỉ là sự ngột ngạt, một thứ không gian hạn hẹp mà nhà sư Sumedho nêu lên trong thí dụ trên đây hầu giúp chúng ta ý thức được các kích thước to lớn hơn của tâm thức mình. Nếu chúng ta ngồi xuống để phát huy một sự chú tâm thật mạnh thì chúng ta sẽ không còn trông thấy hay nghe thấy gió đâu cả, kể cả những ngọn gió heo may hay những tiếng rì rào trong kẻ lá, mà tuyệt nhiên chỉ có không khí mà thôi. Chúng ta hít thở cái không khí đó một cách thật êm ả, tương tự như nghe thấy "âm thanh của sự yên lặng" và trông thấy sự "vô biên của không gian" trong tâm thức nguyên sinh của mình. Sự hít thở nhịp nhàng đó phản ảnh sự sống đích thật của chính mình.
Điểm đáng lưu ý thứ hai là thể dạng "Giác Ngộ" mà nhà sư Sumedho nói đến trên đây. Nhà sư Sumedho tu tập theo truyền thống "Tu trong rừng" của Phật giáo Theravada, là một phép tu gần nhất với Con Đường mà Đức Phật đã bước đi cách nay hơn hai ngàn năm trăm năm. Vậy chúng ta cũng có thể thắc mắc là sự "Giác Ngộ" của Phật giáo Đại Thừa là thế nào, có phải là cùng một thứ với sự "Giác Ngộ" do nhà sư Sumedho nêu lên hay không?
Thực sự thì không có sự giác ngộ nào theo kiểu Phật giáo Theravada, và cũng không có sự giác ngộ nào theo kiểu Phật giáo Đại Thừa. Sự Giác Ngộ luôn luôn chỉ là một thứ. Người ta thường cụ thể hóa và gọi sự Giác Ngộ của Phật giáo bằng mọi thứ tên gọi và hình ảnh khác nhau: chân như, Phật tính, tâm thức nguyên sinh, Ngộ (Satori), ánh sáng trong suốt của cái chết, thể dạng Như Lai, v.v... Thế nhưng Giác Ngộ chỉ là một sự Hiểu Biết còn gọi là Trí Tuệ, đó là sự hiểu biết minh bạch và tường tận về bản chất của chính mình, về tâm thức mình và sự vận hành của nó, về thế giới và các quy luật chuyển động và hình thành của các hiện tượng trong thế giới ấy. Sự hiểu biết đó chỉ có thể mang lại bằng một sự suy tư lâu dài, một sự chú tâm kiên trì và sắc bén, nhưng không thể mang lại bởi một tâm thức xao lãng và giông bão triền miên. Một cách cụ thể là sự hiểu biết ấy sẽ giúp mình trông thấy được tất cả các nghiệp trong quá khứ của mình và các nghiệp mà mình đang tạo ra cho mình trong hiện tại, hầu hóa giải chúng, nói một cách khác là trút bỏ gánh nặng của các hậu quả mang lại từ sự xao lãng của mình hầu giúp mình lắng nghe "âm thanh của sự yên lặng" và sự "bát ngát của không gian vô biên" hiển hiện trong tâm thức mình.
Tóm lại sự Giác Ngộ lúc nào cũng chỉ là một thứ, nếu có khác biệt thì đấy là sự khác biệt giữa các con đường, không phải là cứu cánh mang lại từ các các con đường ấy. Con đường của Phật giáo Theravada rất thẳng, hướng tầm nhìn của mình về phía trước mặt. Con đường của Phật giáo Đại thừa mở rộng và tạo ra không biết bao nhiêu hướng, khiến nhiều người chạy quanh mà không biết là phải bước theo hướng nào. Trên con đường đó cũng xuất hiện thêm vô số các vị Bồ-tát và các vị Phật, khiến đôi khi chúng ta không biết là phải khẩn cầu vị nào.
Đức Đạt-lai Lạt-ma thường nói rằng nếu bước theo con đường của Phật giáo Theravada thì đến một lúc nào đó chúng ta sẽ cảm thấy dường như vẫn còn thiếu một chút gì đó. Một chút gì đó chính là sự mở rộng của con đường Đại Thừa, giúp chúng ta nhìn thấy thế giới và tất cả nhân loại. Sự sinh hoạt của con người trên hành tinh mang nhiều khía cạnh khác nhau, chi phối bởi tập quán, truyền thống, tín ngưỡng, văn hoá và các sự thúc đẩy bản năng, mang lại đủ mọi hình thức "xao lãng" và "nhiễu loạn", do đó một con đường mở rộng tỏ ra thật cần thiết. Thế nhưng Đức Đạt-lai Lạt-ma cũng cảnh giác chúng ta là phải thấu triệt và đạt được mục tiêu nêu lên của Phật giáo Theravada, trước khi có thể bước vào con đường của Đại Thừa một cách vững chắc và đúng đắn được. Thật vậy, dường như Phật giáo Đại Thừa tự gán thêm cho mình một chút lý tưởng nào đó, thế nhưng đồng thời qua các hình thức tu tập đại chúng, cũng có thể đã tạo ra thêm một chút hoang mang và xao lãng nào đó cho người tu tập.
Vì thế thiết nghĩ ngay trong lúc này chúng ta cũng nên nghe theo lời khuyên của nhà sư Sumedho lắng nghe cái "âm thanh huyền diệu đó của sự yên lặng" vang lên từ một nơi rất sâu trong tâm thức mình.

Bures-sur-Yvette, 06.11.15 Hoang Phong chuyển ngữ