CÚNG DƯỜNG CAO THƯỢNG

Một điểm đặc biệt đáng lưu ý là trong tám muôn bốn ngàn giáo pháp của Đức Phật gồm trong Tam Tạng Kinh, Luật, và Vi Diệu Pháp không thấy đề cập đến những hình thức lễ bái, thờ phụng, cúng kính (hiểu theo nghĩa thông thường). Do đó mỗi quốc độ có một lối lễ bái cúng dường riêng. Các hình thức lễ bái này phản ảnh phong tục tập quán của từng địa phương. Cách thiết trí bàn thờ Phật, cách hành lễ, cách tụng kinh, những lễ cụ để điều hòa tiếng kinh câu kệ mỗi nơi một khác. Âm nhạc của quốc gia cũng ảnh hưởng đến lễ nghi thờ lạy ở chùa chiền. Bởi lẽ kinh điển không ấn định một hình thức lễ bái nào nên nhiều nơi, vì ảnh hưởng của các tôn giáo khác, của tục lệ cổ truyền, những nghi thức mang đầy tính cách dị đoan mê tín được thu nhập khiến người bàng quan dễ có một nhận định sai lầm về đạo Phật.

Nghĩ về ý nghĩa của Phật giáoThiền tông qua vài suy luận triết học Heidegger

...Vừa viết xong nhan đề “Nghĩ về ý nghĩa đạo Phật Thiền tông qua vài suy luận triết học Heidegger” tôi sực ý thức rằng: tôi đã viết một nhan đề trái nghịch lại hẳn với tinh thần đạo Zen (Thiền). Người nào từng thể nhập Thiền đạo đều thấy rõ ràng tôi đã sai lầm ngay từ nhan đề… Vì sao?
Thoạt tiên, chúng ta để ý đến động từ “nghĩ”. Chúng ta thường nói một cách rất bình tĩnh: “Tôi nghĩ rằng… tôi nghĩ về… thánh nhân kia nghĩ rằng… triết nhân kia nghĩ… đại nhân kia nghĩ… Sartre nghĩ…”. Động từ “nghĩ” là một động từ thông thường hằng ngày mọi người đều dùng một cách ung dung, tự tại và bình thản. Ta nào ngờ động từ “nghĩ” là một động từ rất nguy hiểm và rất tai hại.

Đã nói trước có Phật tánh, vì sao lại nói nay không Phật tánh?

CHÁNH VĂN:
Hỏi: Đã nói trước có Phật tánh, vì sao lại nói nay không Phật tánh?
Đáp: Nay nói không có Phật tánh là bị phiền não che đậy không thấy, do đó nói không. Trước không nay có, trước không là trước không có phiền não, nay có là ngày nay có đủ phiền não. Dù cho đại kiếp phiền não như hằng sa cũng là nay có. Cho nên nói ba đời có pháp thì không có lẽ đó, nghĩa là Phật tánh không tiếp nối trong ba đời.

NHẤT THIẾT PHÁP VÔ NGÃ

Có ông bạn thời Trung-học, nguyên là kỹ-sư, đã về hưu nhiều năm, nay cuối đời chỉ chuyên tâm một việc là nghiên cứu Phật pháp và tu hành. Ông bạn già gởi thư bộc bạch về việc tu học của mình, đồng thời hỏi người viết hai câu, yêu cầu giải thích, xin được tóm tắt đại ý như sau:
"-Thứ nhất, vì sao trong các kinh Đại-thừa, đức Phật thường dạy "Nhất thiết pháp vô ngã - tất thảy pháp vô ngã", hoặc những câu có ý nghĩa tương tự, tức là các pháp tướng không phải thật có, trong khi trước mắt, thấy cái gì cũng đều thật có cả.

LẠI TRỞ VỀ CỐ QUẬN!

Cả hai bài Thư Xả và Trở Về Mái Nhà Xưa, tôi đều chỉ nói một vấn đề, là trở lại, là “hồi đầu thị ngạn”, là an lập thực tại thân thọ tâm pháp ở đây và bây giờ, đừng hướng ngoại cầu huyền, đừng rong ruổi Đông Tây Nam Bắc tìm kiếm cái gì nữa – là “yếu chỉ” đầu tiên mà sư huynh của tôi - thiền sư Viên Minh - đã giảng nói cả hằng chục khóa thiền trong và ngoài nước.
Cũng tương tợ vậy, hãy trở lại ngôi nhà của mình, châu báu nó nằm sẵn ở trong - tương tự như “Cư trần lạc đạo” của Trần Nhân Tông:

Nhân duyên gì mọi người tới với vị Thầy từ bốn phương

Tại sao và làm thế nào mà mọi người tới với Thầy từ bốn phương trên trái đất này?
Nếu người nào nói ra chân lí, người ấy chắc chắn sẽ được mọi người tìm tới dù sớm hay muộn - đó là lí do tại sao.
Điều này là không thể nào... nếu bạn đã thốt ra chân lí, thì không thể nào người khác lại không tới. Họ đang ao ước về điều đó, họ đang khát khao về điều đó, họ đang đói về điều đó; và họ vẫn còn đói trong nhiều kiếp.