Chúng ta nói sự thực hành của chúng ta không nên có ý niệm đắc, không có mong mỏi, thậm chí ước mong giác ngộ. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa chỉ ngồi không có mục tiêu nào cả. Sự thực hành thoát khỏi ý niệm đắc này căn cứ trên kinh bát nhã Ba-la-mật-đa. Tuy nhiên, nếu bạn không cẩn thận, thì chính bản thân kinh sẽ cho bạn một ý niệm đắc. Kinh nói, “sắc là Không và Không là sắc”. Nhưng nếu bạn bám vào câu ấy, bạn đã đi vào ý niệm nhị nguyên: đây là bạn, sắc, và đây là Không, cái bạn đang cố gắng chứng ngộ qua sắc cả bạn. Thế nên, “sắc là Không, và Không là sắc” thì vẫn nhị nguyên. Nhưng may thay, giáo lý của chúng ta nói tiếp, “sắc là sắc và Không là Không”. Ở đây không có nhị nguyên.
BẤT NHỊ - SỐNG LÀ CHỈ SỐNG VẬY THÔI
Chúng ta nói sự thực hành của chúng ta không nên có ý niệm đắc, không có mong mỏi, thậm chí ước mong giác ngộ. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa chỉ ngồi không có mục tiêu nào cả. Sự thực hành thoát khỏi ý niệm đắc này căn cứ trên kinh bát nhã Ba-la-mật-đa. Tuy nhiên, nếu bạn không cẩn thận, thì chính bản thân kinh sẽ cho bạn một ý niệm đắc. Kinh nói, “sắc là Không và Không là sắc”. Nhưng nếu bạn bám vào câu ấy, bạn đã đi vào ý niệm nhị nguyên: đây là bạn, sắc, và đây là Không, cái bạn đang cố gắng chứng ngộ qua sắc cả bạn. Thế nên, “sắc là Không, và Không là sắc” thì vẫn nhị nguyên. Nhưng may thay, giáo lý của chúng ta nói tiếp, “sắc là sắc và Không là Không”. Ở đây không có nhị nguyên.
Những Cuộc Độc Tham của Người Phương Tây với Thiền Sư Hakuun Yasutani
![]() |
Thiền sư Hakuun Yasutani
(An Cốc Bạch Vân 1885-1973)
|
Học viên: Tôi cảm thấy tôi là tù nhân của cái ta của tôi và tôi muốn chạy trốn. Tôi có thể làm được việc ấy qua tọa thiền không?
Lão sư: Chúng ta hãy nói về tâm trước. Có thể ví tâm bà như một tấm gương,(12) nó phản chiếu mọi vật xuất hiện trước nó. Từ lúc bà bắt đầu suy nghĩ, cảm biết và vận dụng ý chí, hình bóng ném lên tâm bà làm méo mó ảnh phản chiếu. Tình trạng ấychúng tôi gọi là mê hoặc, là cái bệnh căn bản của con người.
Thông điệp nền tảng nhất của Phật Gautama là gì?
Thông điệp nền tảng nhất của Phật Gautama là không có Thượng đế, không có linh hồn... đó là tự do: tự do tuyệt đối, toàn bộ, vô điều kiện. Ông ấy không muốn cho bạn ý thức hệ, bởi vì mọi ý thức hệ đều tạo ra sự nô lệ của riêng nó. Ông ấy không muốn cho bạn tôn giáo, bởi vì tôn giáo trói buộc bạn. Đó đích xác là nghĩa tiếng Anh của từ 'tôn giáo' - điều trói buộc bạn lại. Tôn giáo là tù túng, rất tinh vi, tinh vi tới mức chừng nào bạn còn chưa rất nhận biết bạn sẽ không có khả năng thấy điều đó. Ông ấy không muốn cho bạn triết lí về cuộc sống, bởi vì bất kì triết lí nào được ai đó khác trao cho bạn đều sẽ giam cầm bạn. Bạn phải sống tương ứng theo ánh sáng riêng của mình, không theo ánh sáng của ai đó khác.
VẤN ĐẠO VỚI HUỆ HẢI THIỀN SƯ
Con người thường bị những tư tưởng yêu ghét chi phối, hướng ra ngoài tìm cầu điều mong muốn. Khi ở thế gian thì muốn đạt được hạnh phúc qua tình tiền danh vọng, đi tu lại muốn được hạnh phúc bằng cách đạt đến cảnh giới Niết Bàn, đạt được đạo quả. Sự mong muốn tìm cầu đó khiến con người ở trong đối đãi nhị nguyên, không thể nhận ra bảo vật quý báucó sẵn ngay nơi thân phàm phu của chính mình. Vọng niệm là chướng ngại cản trở tầm nhìn của chúng ta, như những đám mây dầy che khuất ngọn núi hùng vĩ, như những lớp đất bao phủ viên ngọc quý rạng ngời. Tâm bình thường là tâm bình lặng vốn sẵn ở đó như mặt hồ vốn phẳng lặng, nhưng khi vọng niệm khởi lên là như mặt hồ bị gió thổi gợn sóng. Trở về với tâm bình thường là trở về với tâm không lặng, không bị chướng ngại bởi vọng niệm. Khi không bị vọng niệm chướng ngại, không suy tính mưu toan thì tự nhiên có cuộc sống ngay thẳng, làm điều ngay thẳng. Các bậc thiền sư nói: "Tâm bình thường tức là Đạo". Dù ở thế gian hay xuất thế gian, đắc đạo hay chưa đắc đạo, nếu sống ngay thẳng, làm điều ngay thẳng được, há chẳng phải là trở về với Đạo đó sao. Lời dạy của thiền sư Huệ Hải thật giản dị mà ý nghĩa thâm sâu làm sao! Không lạ gì mà các vị tăng phải thán phục ngài là vị Thiền sư hiếm có trên cõi đời này!
Một nhận định về A-lại-da Thức
Trong Du Già Phái (Yogacara) -- còn gọi là Duy Thức Tông(Vijnanavàda) -- có một khái niệm được xem là biểu tượng độc đáo nhất, đó chính là A Lại Da Thức hay Tàng Thức (Alayavjnana) và chính ngài Vô Trước (Asanga) đã là người hoàn chỉnh nó.
Ngài Asanga đã chia Thức Uẩn (trong ngũ uẩn) thành ba phần Tâm (Citta), Ý (Manas) và Thức (Vijnana) trong khi ở truyền thống Phật giáo Thượng Tọa Bộ thì ba danh từ này đều trỏ chung một thức uẩn. Kể cả Hữu Bộ(Sarvastivada) cũng đồng ý như vậy. Đến Kinh Lăng Già(Larikavatarasùtra), một tác phẩm đặc biệt của Phật giáo Bắc Tông, cũng xem ba chữ này là các từ đồng nghĩa, dù trong vài bài kinh có nói tới những cái giống như là ý nghĩa riêng biệt của từng chữ.
Tư tưởng và công án tham cứu về Chân Tâm của Thiền Sư Thanh Đàm
... Đề cập đến chữ “Pháp” Thanh Đàm viết:“Pháp là tất cả mọi vật, là sự ứng dụng của Diệu Tâm. Diệu Tâm là nguồn thiêng của mọi vật. Pháp là Tâm, Tâm là Pháp. Pháp là tùy duyên của Diệu Hữu khi không nhiễm thì gọi là Diệu Pháp. Tâm là ứng vật của chân không, khi không vướng vào trần thì gọi là chân tâm. Mượn cái gì mà nói được về chân tâm? Nói về diệu pháp thế nào để không ngăn ngại sự tu chứng?
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)




