Tương truyền rằng có lần Diogenes đến thăm Socrates. Diogenes sống như một kẻ ăn xin; ông ta bao giờ cũng mặc quần áo bẩn thỉu với nhiều vết vá và lỗ hổng. Cho dù bạn có tặng cho ông ta một bộ quần áo mới ông ta cũng không dùng nó - trước hết ông ta phải làm cho nó bẩn đi, cũ đi, sờn đi và thế rồi ông ta mới mặc. Ông tới thăm Socrates và ông ta bắt đầu nói về vô ngã. Nhưng con mắt thấu suốt của Socrates phải nhận ngay ra rằng con người này không phải là người vô ngã. Cách thức ông ta nói về khiêm nhường là rất bản ngã. Tương truyền rằng Socrates đã nói: Qua bộ đồ bẩn thỉu của ông, qua những lỗ thủng trên quần áo ông, tôi chẳng thấy gì ngoài bản ngã cả. Ông nói về khiêm tốn, nhưng câu chuyện đó lại bắt nguồn từ trung tâm sâu của bản ngã.
NIỀM AN BÌNH của Thượng Đế.
Có nhiều câu chuyện về những người do gặp phải tai đương hay những bất hạnh lớn trong đời mà bỗng nhiên họ chứng nghiệm được chiều tâm thức mới này. Có người thì do mất hết của cải, mất con cái, hoặc mất vợ hay chồng; có người thì mất đi một địa vị trong xã hội họ đã từng có trước đây, bị mất danh dự hay bị tàn tật. Nhiều trường hợp khác là do thiên tai hoặc chiến tranh mà bỗng dưng họ mất đi tất cả, lúc đó họ thấy mình bỗng dưng trắng tay. Ta có thể nói rằng những người ấy bị rơi vào một tình huống khó khăn, bó buộc. Những gì họ tự đồng nhất mình, những gì thường tạo cho họ một cảm nhận, một giá trị về bản thân trước đây, bây giờ đều mất hết.
Ngũ uẫn và Sự hóa giải
...Ngũ uẩn nguyên là gốc của quá trình nhận thức và xử lý thông tin tự nhiên, mà yếu tố cơ bản không thể thiếu là xúc, thọ, tưởng, tư, tác ý...
...Muốn hóa giải sự hình thành 5 uẩn...dùng sự quan sát của tánh biết để thấy tiến trình ngũ uẩn đang diễn ra...chính là pháp hành chánh niệm tỉnh giác trên diễn biến của thân thọ tâm pháp để thấy rõ ngũ uẩn và hóa giải sự hình thành bản ngã...
Audio: Vô sư trí - Hậu đắc trí
Trong phương diện thực tánh chân đế, tâm và pháp vốn hoàn hảo, nên nếu trở về với tự tánh thì có thể lập tức "đốn ngộ" nên Pháp mới được gọi là sanditthiko, akāliko, ehipassiko... (thực tại hiện tiền, vượt khỏi thời gian, trở về là thấy...). Đó là cái ngộ của vô sư trí. Tuy nhiên, trong phương diện khái niệm tục đế thì dù có đốn ngộ vẫn phải trải qua 4 giai đoạn tiến hóa mới hoàn thành hậu đắc trí. Hai trí này phải hợp tác song song, không thể bỏ qua giai đoạn "tiệm tu" nào thì mới giác ngộ hoàn toàn được.
Bài học sinh động về giáo lý Duyên Khởi
Chư Phật không phải là những người tạo ra những thứ mới lạ, mà là người phơi bày cho thiên hạ nhìn thấy những điều vốn đã có sẳn nhưng hầu hết không thể nhìn ra. Những cái thấy đó quan trọng vì chúng giúp người thấy chấm dứt được đau khổ, cái đi ra từ những ngộ nhận. Giáo lý Duyên Khởi hay Tứ Đế cũng đều là những vấn đề của muôn thuở. Từ vô thủy đến vô chung, những nguyên tắc đó đã là luật chung của vạn hữu. Qua lời Phật, ta có thể nhìn thấy những nguyên tắc đó vốn dĩ bàng bạc khắp mọi khía cạnh của đời sống, từ chuyện lớn đến chuyện nhỏ. Trong mấy dòng chữ ngắn ngủi này, chúng tôi muốn giới thiệu đại lược về giáo lý Duyên Khởi, một vấn đề giáo lý quan trọng có thể nói là bậc nhất của Phật giáo nguyên thủy.Sống với Pháp trong cuộc đời
Có một số người vẫn chưa hiểu tính chất của sự thực tập Thiền. Họ nghĩ rằng thiền hành, tọa thiền và nghe pháp thoại là thực tập.
Thật là như vậy, nhưng đây chỉ là những thực tập phiến diện, sự thực tập thật ra nằm nơi phần tinh thần, với một đối tượng. Ðấy mới là sự thực tập thật sự. Ví dụ khi người ta nói một điều gì đó mà mình không thích thì sự bực dọc, tức tối nổi lên; nếu họ nói gì đó mà ta thích thì ta vui vẻ và đồng lòng. Và đấy là lúc mà ta cần phải thực tập. Thực tập như thế nào ? Ðây mới là vấn đề chính.
Nếu chúng ta chỉ luôn luôn chạy theo sự sung sướng và quay lưng với đau khổ thì suốt đời ta không thấy được pháp. Thật là vô ích! Khi sung sướng hay đau khổ xuất hiện, chúng ta hãy thực tập giáo pháp để thoát khỏi sự kềm chế của chúng, và đây mới là sự thực tập tốt, có lợi ích.
Thật là như vậy, nhưng đây chỉ là những thực tập phiến diện, sự thực tập thật ra nằm nơi phần tinh thần, với một đối tượng. Ðấy mới là sự thực tập thật sự. Ví dụ khi người ta nói một điều gì đó mà mình không thích thì sự bực dọc, tức tối nổi lên; nếu họ nói gì đó mà ta thích thì ta vui vẻ và đồng lòng. Và đấy là lúc mà ta cần phải thực tập. Thực tập như thế nào ? Ðây mới là vấn đề chính.
Nếu chúng ta chỉ luôn luôn chạy theo sự sung sướng và quay lưng với đau khổ thì suốt đời ta không thấy được pháp. Thật là vô ích! Khi sung sướng hay đau khổ xuất hiện, chúng ta hãy thực tập giáo pháp để thoát khỏi sự kềm chế của chúng, và đây mới là sự thực tập tốt, có lợi ích.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)

.jpg)


