Chân Đế & Tục Đế


Hai pháp Tục Ðế (Sammuttisacca) và Chân Ðế (Paramatthasacca) bao hàm trọn vẹn tất cả các pháp trong thế gian. Trong Phật Giáo, Thiền chỉ và Thiền quán là 2 pháp hành rất quan trọng. Đặc biệt, đối tượng của Thiền quán là Pháp Chân Đế và đối tượng của Thiền chỉ là Pháp Tục Đế hay Pháp Chế Định. Cho nên, người học Phật cần phải phân biệt rõ thế nào là giả định (tục đế), thế nào là thật thể (chân đế). Ðâu là hữu vi, đâu là vô vi để không có sự lầm lẩn, chấp "ngón tay là mặt trăng"; nhất là đối với người hành thiền tứ niệm xứ thì vấn đề càng quan trọng hơn, vì hành thiền minh sát là quán xét để thấu triệt bản chất thật thể của các pháp, thì khi đó mới hành Thiền Tứ Niệm Xứ đúng được.





• 
Chữ Chân Đế (Paramatthasacca): Chân lý tối thượng, sự thật tuyệt đối, hay thực tại rốt ráo. Tiếng Anh là reality, actuality. Và Không bao giờ thay đổi (Parama aviparito): không thay đổi ở đây không có nghĩa là thường hằng, bất biến, mà nó có nghĩa là trước sau giống nhau không sai khác. Quá khứ như thế nào thì hiện tại và tương lai cũng như thế ấy; do đó được gọi là chân như (chân: sự thật; như: không thay đổi). Ví dụ "các Pháp do duyên sanh thì các Pháp đó do duyên diệt, cái gì có sanh thì cái đó phải diệt."  Ngoài ra, về mặt chiết tự ta có thể hiểu (chân: sự thật, đế: sự thật) chân đế là sự thật của sự thật, là thực thể của tục đế.
  Theo Vi Diệu Pháp có tất cả là bốn thực thể của các pháp:
    1. Tâm (Citta): thành phần tri giác của chúng sanh.
    2. Sở hữu tâm (Cetasika): thành phần phụ thuộc của tâm.
    3. Sắc pháp (Rūpa): thành phần vật chất, vô tri.
    4. Niết bàn (Nibāna): bản thể tịch tịch, chấm dứt sự sinh diệt của Danh Sắc.
   - Tâm 
(Citta), Sở hữu tâm (Cetasika) và Sắc pháp (Rūpa) gọi là pháp hữu vi (Saṅkhāra)

  - Niết Bàn (Nibāna) được gọi là pháp vô vi (Asaṅkhāra).



Chữ Tục Đế (Sammuttisacca) là sự thật mang tính chế định, có nghĩa là sự thật thông thường do thế tình đặt ra, thay đổi theo thời gian, môi trường hay tập thể nào đó nên có khi đúng khi không. Ví dụ như khi nói ở Việt Nam tài xế lái xe phải đi bên phải là đúng luật, còn bên Úc thì bên trái là đúng luật. Như vậy chỉ đúng ở địa phương hay thời điểm nào đó thôi.

 Chữ Sammuttisacca còn được các dịch giả dịch bằng những danh từ khác nhau như sau:
Chế định: ngôn từ để chỉ định vật gì định đặt.
Mặc ước: ước định, khái niệm về vật gì.

Thi thiết: đặt bày ngôn từ diễn đạt các sự vật ...
Mặc dù được dịch với nhiều danh từ, nhưng tựu chung thì Tục đế là các ngôn từ được định đặt ra để diễn đạt các sự vật. Pháp Tục Ðế được chia ra làm hai loại chế định: Danh chế định Nāmapaññatti và nghĩa chế định Atthapaññatti.




Trong xã hội người ta quy định vật này vật kia, người này người kia để dễ phân biệt như nhà l
ầu, xe hơiông A, bà B ...v.v... thì gọi là Danh chế định (Nāmapaññatti) (danh xưng), khi nói đến danh chế định thì người liền liên tưởng đến vật được miêu tả thì gọi là nghĩa chế định (Atthapaññatti). Ví dụ như nói đến trái chanh là nói đến một vật có hiện hữu (Paramattha), tên gọi trái chanh là danh chế định (Nāmapaññatti) và hình ảnh trái chanh hiện lên trong đầu là nghĩa chế định (Atthapaññatti)

Một ví dụ khác, chữ "giận" là ngôn ngữ là danh chế định. Khi nói đến "giận" là hình dung đến một cơn giận đã xảy ra trong quá khứ thì gọi là khái niệmCòn ngay trong thực tại mà ta đang sân giận tức là cơn giận đang hiện hữu là sự thật chân đế Paramattha.
Khi hành thiền thì ngay thực tại thì không có giận nhưng cứ nghĩ đến chuyện hôm qua mình giận ai đó, rồi nhớ đến trạng thái giận như thế nào thì hình ảnh giận chỉ là khái niệm mà thôi.
Cho nên có thể nói Chân Đế là bản thể của Tục Đế.


💜 Danh chế định (Nāmapaññatti) rất cần thiết trong xã hội, trong Phật giáo được phân ra làm sáu loại:

1. Danh chơn chế định (Sāvijjamāna paññatti): là những danh từ chỉ thực tánh chân đế, những danh từ dùng để diễn đạt pháp Chân đế.
Thí dụ: Tâm, Sở hữu tâm, Sắc pháp, Thọ, Tưởng, Hành, Thức, Uẩn, Xứ, Giới, Ðế, Niết Bàn ...


2. Phi danh chơn chế định (Avijjamāna paññatti): là những
 từ dùng để diễn đạt pháp Tục đế. 
Thí dụ: Cái nhà (vì cái nhà do hiệp thành từ nhiều yếu tố), tôi (tôi là tập hợp ngũ uẩn), Chư thiên, Ma vương ...v.v...

3. Danh chơn, phi danh chơn chế định (Vijjāmāna avijjāmāna paññatti): là những danh từ ghép, chữ trước chỉ vật có thật (pháp chân đế), chữ sau chỉ vật theo qui ước (pháp tục đế). 
Thí dụ: Tâm tôi (tâm thì có, còn tôi thì không có), Tiếng radio, Mùi sầu riêng ...  tiếng, mùi là những danh từ chỉ vật có thật (chân đế); tôi, radio, sầu riêng là những danh từ giả định (tục đế).

4. Phi danh chơn, danh chơn chế định (Avijjāmāna vijjāmāna paññatti): là những danh từ ghép, tiếng trước thuộc về ngôn từ giả định (pháp Tục đế), tiếng sau thuộc về những danh từ chỉ vật có thật (pháp Chân đế). 
Thí dụ: Tôi sân, nó có tâm tham ... (Tôi, nó là giả danh, không có thật; sân, tâm tham là những trạng thái có thật.)

5. Danh chơn, danh chơn chế định 
(Vijjāmāna vijjāmāna paññatti): là những danh từ ghép, tiếng trước và tiếng sau đều chỉ những sự vật có thật. 
Thí dụ: Tâm Tham, Nhãn Thức, Thọ Lạc ... (Tâm, Tham, Nhãn, Thức, Thọ, Lạc đều là những sự vật có thật)

6. Phi danh chơn, phi danh chơn chế định
(Avijjāmāna avijjāmāna paññatti): là những danh từ ghép, trong đó tiếng trước và tiếng sau đều chỉ những sự vật giả danh.
Thí dụ: nhơn loại, thiên hạ, trời đất, cha con, ông cháu, nhà tôi, xe tôi.. những danh từ đó diễn đạt những sự vật không có thật.

💜 Nghĩa chế định Atthapaññatti (khái niệm) gồm có bảy loại khái niệm như sau:

1. Hình thức chế định (Santhānā paññatti): là những danh từ dùng để diễn đạt hình dáng của sự vật như núi cao, biển rộng, hố sâu, sông dài, bàn tròn, người lanh lẹ, ....

2. Hiệp thành chế định (Samūha paññatti): những danh từ chỉ các sự vật hiện hữu bởi sự tập hợp của nhiều vật khác nhau như cái nhà là sự kết hợp bởi nhiều yếu tố như rui, mè, kèo, cột ..., xe (sự kết hợp bởi sườn, bánh, tay lái, ...), gia đình (sự kết hợp bởi cha, mẹ, con cái ...), người (sự kết hợp của ngũ uẩn), cái bàn, cái ghế, quốc gia...v.v...

3. Chúng sinh chế định (Satta paññatti): là những danh từ dùng để chỉ những sinh vật có thức tánh, mạng căn như loài người, Chư Thiên, tiên, Phật, ... Phân tích ra thì tất cả chúng sanh có thức tánh đều có ngũ uẩn, nhưng vì có những đặc tính hình dáng giống nhau mà phân biệt người, loài vật, chư thiên...v.v...

4. Phương hướng chế định (Disā paññatti): là những danh từ dùng để diễn đạt về phương hướng như Ðông, Tây, Nam, Bắc, trên, dưới ... ví dụ người ở Sydney thì Brisbane là hướng Bắc, Melbourne là hướng Nam... Còn như người ở Melbourne thì Brisbane, Sydney là hướng Bắc còn Adelaide là hướng Nam...

5. Thời gian chế định (Kāla paññatti): là những danh từ dùng để chỉ một thời điểm nào đó như buổi sáng, buổi tối, Xuân, Hạ, Thu, Ðông, ... Ví dụ như người ta lấy 1 vòng quay trái đất tính 24 giờ (1 ngày 1 đêm)...

6. Hư không chế định (Ākāsa paññatti): là những danh từ dùng để diễn tả những chỗ trống, kẻ hở, hư không như hang, hố, huyệt, ao, đầm, ..

7. Hình tướng chế định (Nimitta paññatti): cũng gọi là Tiêu Biểu chế định, là những danh từ diễn đạt một sự vật tiêu biểu, tượng trưng như biểu tượng lá cờ, quốc gia, bảng hiệu, ... hay các đề mục tu Chỉ Tịnh như Ðất, Nước, Lửa, Gió, xanh, vàng, ...

 Trong một sự vật vừa có chân đế và tục đế đang hiện hữu, ví dụ mình có thỏi vàng, lấy thỏi vàng đó làm nhẫn, rồi lấy thỏi vàng khác làm dây chuyền, hoa tai v.v... Thì nhẫn, dây chuyền, hoa tai... đó chỉ là hình dáng (chế định). Còn chất vàng là Paramattha.
Trong người mình có tâm, tâm sở, sắc pháp là Paramattha. Thí dụ tôi là sư cô, tôi là giáo viên, tôi là bác sĩ v.v... thì tất cả những cái đó là paññatti, nó không có thật chỉ là sự thật chế định được gắn nhãn lên thôi. 
Trong xã hội những khái niệm tục đế rất quan trọng, nếu không biết và không thực hành thì rất nguy hiểm. Thí dụ như chúng ta phải tuân hành theo những luật lệ trong xã hội... Mặc dù biết đó là chế định nhưng vì sự an toàn mà mình phải thực hành. Khi xúc chạm việc đời, chế định biết chế định, chân đế biết chân đế, là biết sống dung thông giữa thế giới này mà không có gì bị trở ngại. Nói theo luật nhân qu, ngũ uẩn này đang làm những pháp thiện thì ngũ uẩn này sẽ nhận được quả tốt đẹp ở tương lai và để dễ phân biệt ngũ uẩn này với ngũ uẩn khác nên phải phải đặt ra đây là tôi, đây là cha, mẹ, đàn ông, đàn bà ...v.v... 
 Đức Phật khi Ngài giảng Ngài cũng phải dùng danh từ, ngôn ngữ nhưng qua ngôn ngữ đó phải biết được cái thật mà Đức Phật muốn nói tới. Cho nên đừng dính mắc vào ngôn ngữ mà đa phần con người ta thường bị bệnh ngôn ngữ.
Trong Vi Diệu Pháp Đức Phật dùng những khái niệm chân đế để mô tả. Còn trong kinh đức Phật chỉ dùng ngôn ngữ đời sống hàng ngày của người thường. Thí dụ như Ngài hỏi người chăn bò muốn đàn bò tăng thịnh tốt đẹp phải làm gì thì anh ta trả lời tuần tự có đến mười một pháp (phải nhận biết bò một cách rành rõi, cách cho bò ăn, cách cho bò tắm v.v...) thì Đức Phật trả lời, một vị tỳ khưu cũng cần thiết phải có đủ mười một pháp như thế thì mới có thể lớn mạnh, tăng thịnh, thịnh mãn trong pháp và luật của Như Lai! Như vậy, Ngài cũng dùng trên sự chế định rồi từ chế định đó Ngài nói đến Pháp chân đế (sự tu tập). Cho nên, tục đế là khái niệm để cho một pháp chân đế đang tồn tại. 
Vậy thì khi nào thấy chân đế và khi nào thấy tục đế? Khi nào nhìn vào một sự vật nào đó mà không gọi tên nó, không có khái niệm về nó, mà chỉ thấy như nó đang là thôi, là thấy Chân Đế.
Khi ngồi Thiền mà nghĩ tới vật gì đó như tôi đi, tôi đau. Khi có tác ý nghĩ tôi đau là chế định paññatti (khái niệm) rồi. Rồi nghĩ đến tu cao tu thấp v.v... cũng là khái niệm. Thông thường một danh khái niệm nó sẽ dẫn cho mình một vật khái niệm ở trong đầu. Cho nên, khái niệm được căn cứ trên vật có thật. 
Trong kinh nói rằng "Quán thân trên thân; quán thọ trên thọ; quán tâm trên tâm; quán pháp trên pháp" tức là thấy đối tượng thân, thọ, tâm, pháp đúng như nó đang là (Paramattha) gọi là quán thân (thọ, tâm, pháp) trên thân (thọ, tâm, pháp). Hay quán hơi thở trên hơi thở thì hơi thở đang có thật, đang thở vô thở ra là Paramattha. Còn như khi thấy hơi thở là một luồng khí trắng đi vào đi ra, thì hình ảnh luồng khí trắng đó là khái niệm. Cho nên, có nhiều người ngồi thiền tứ niệm xứ mà nói thấy cảnh này cảnh kia, thấy biết trước chuyện này chuyện nọ như có thần thông hay tiên tri chuyện sắp xảy ra, thì đó chỉ là paññatti (khái niệm) mà thôi. Hành Thiền Tứ Niệm Xứ là Pháp như thế nào thì thấy nó là như vậy (thấy như thị, thấy Paramattha).

Tóm lại, mọi vật trong đời được diễn đạt bằng ngôn ngữ, để bày tỏ cho nhau được hiểu biết, bất cứ dưới hình thức nào, phương tiện nào đều là chế định. Ngay khi Ðức Phật thuyết pháp để chuyển mê, khai ngộ, Ngài cũng phải dùng pháp chế định của Tục Ðế để diễn đạt Chân Ðế.


Bài viết được lượt trích từ Vi Diệu Pháp Giảng Giải
& Pháp Thoại (Chân Đế & Tục Đế - Ni Sư Liễu Pháp giảng 11.03.18)