Tánh Biết - Sự Cô Đơn

Tánh Biết

Hỏi: Thưa thầy làm sao nhận ra Tánh Biết?

- Có một cách dạy con từ trong bào thai gọi là thai giáo. Cha mẹ nói chuyện vui vẻ để truyền những thông tin tích cực cho thai nhi mặc dù thai nhi chưa có ý thức, chưa có nhận thức qua mắt tai mũi lưỡi thân ý, nên không hiểu cha mẹ nói gì theo khái niệm ngôn ngữ tục đế nhưng nó vẫn cảm nhận được tấm lòng của cha mẹ khiến thai nhi vẫn nhận được tín hiệu tinh thần. Điều đó chứng minh rằng tánh biết đã có trước khi hình thành tướng biết qua 6 căn và 6 thức. 

TRƯỜNG ĐÀO TẠO PHẬT


Trường "đào tạo" Phật

Hỏi: Thưa thầy ý nghĩa thật sự của cuộc đời đầy thăng trầm đau khổ này là gì?

- Đời là trường học lớn mà con người được tự do chọn bài học của mình, nhưng chọn kiểu nào cũng đều có bài học đầy gian khó, không có kiểu học nào bình yên trong tháp ngà được cả.
Con đường nào cũng có được mất, hơn thua, thành bại, vui khổ như nhau. Nếu xem trọng "được mất hơn thua thành bại vui khổ" thì sẽ không bao giờ vừa lòng toại ý. Nhưng nếu xem cuộc đời là môi trương giác ngộ thì, "được mất hơn thua thành bại khổ" lại là những bài học tuyệt vời.

Sự im lặng - Sự sợ hãi - Trọn vẹn với hiện tại

Sự im lặng và lắng nghe

Hỏi: Xin Thầy giảng về sự im lặng trong mối quan hệ đối nhân xử thế?

- Trong mối quan hệ giao tiếp cần im lặng lắng nghe để hiểu được ý người nói mới biết nên tuỳ cơ ứng đáp cho thích hợp hoặc nên giữ im lặng khi biết nói ra không ích gì cho cả đôi bên. Trong mối quan hệ xã hội, ngã chấp thường làm cho vấn đề rắc rối hơn. Vội vàng đối đáp khi chưa thấu rõ vấn đề chỉ tạo ra bất đồng và mâu thuẫn. Vì vậy có câu nói, một lời đã nói ra ngựa hay cũng không đuổi kịp (Nhất ngôn ký xuất, tứ mã nan truy) nên khi nói phải cẩn thận, tốt nhất là nên “uốn lưỡi 7 lần trước khi nói”. Hồi Thầy mới học Đạo, có chút lý thuyết Kinh Luận gặp ai cũng cố thuyết phục người ta, về sau mới phát hiện chẳng ai tiếp thu gì cả, vì thực ra mình chỉ cố khoe cái mình biết hơn là đáp ứng nhu cầu thiết thực của họ.

Chứng kiến - Đồng nhất

Trong con người, chiều thứ ba của tâm thức bắt đầu. Con người tồn tại chỉ như tảng đá tồn tại, con người kinh nghiệm sự hiện hữu của mình cũng như bất kì con vật nào kinh nghiệm, nhưng con người cũng có thể nhận biết về hai trạng thái khác. Con người có thể tồn tại, con người có thể biết rằng mình tồn tại, và con người cũng có thể biết rằng mình biết rằng mình tồn tại. Việc kinh nghiệm này tại điểm thứ ba được gọi là chứng kiến.

Cuộc sống là cơ hội cho Thiền.

Phật đã không cho bạn bất kì đối thể nào để thiền về. Ông ấy đã không bảo bạn thiền về Thượng đế, ông ấy đã không bảo bạn thiền về mật chú, ông ấy đã không bảo bạn thiền về hình ảnh. Ông ấy đã bảo bạn làm những điều nhỏ trong cuộc sống với nhận biết thảnh thơi. Khi bạn ăn, ăn một cách toàn bộ – nhai một cách toàn bộ, nếm một cách toàn bộ, ngửi một cách toàn bộ. Chạm vào bánh mì, cảm thấy hình thể bánh. Ngửi bánh mì, ngửi hương vị. Nhai nó, để cho nó tan biến vào trong con người bạn, và vẫn còn ý thức – và bạn đang thiền. Và thế thì thiền là không tách rời khỏi cuộc sống.

BÀN VỀ TRONG TRẮNG


Cái mà hồn nhiên, dù nó làm bất kỳ việc gì, luôn luôn trong trắng; nhưng hồn nhiên không là sản phẩm của suy nghĩ.

                                   ***

Sáng hôm đó con sông có màu bạc đục, bởi vì thời tiết lạnh và có mây. Những chiếc lá phủ đầy bụi, và khắp mọi nơi đều có một lớp bụi mỏng – trong căn phòng, trên hành lang, và trên cái ghế. Thời tiết đang trở nên lạnh lẽo hơn, chắc phải có nhiều tuyết trên dãy núi Himalayas; người ta có thể cảm thấy gió buốt lạnh từ phương Bắc, ngay cả những con chim cũng nhận biết được nó. Nhưng sáng hôm đó con sông có một chuyển động lạ thường của riêng nó; dường như nó không bị làm gợn chút sóng nào bởi gió, dường như nó bất động và có chất lượng không thời gian mà tất cả dòng nước đều thụ hưởng. Đẹp đẽ làm sao đâu! Chẳng thắc mắc tại sao con người đã biến nó thành một con sông thiêng liêng. Bạn có thể ngồi ở đó, trên hàng hiên, và yên lặng nhìn ngắm nó trong không-thời gian. Bạn không đang mơ mộng; những suy nghĩ của bạn không ở trong bất kỳ phương hướng nào – đơn giản, chúng không-hiện diện.

Như Lý tác ý - Vô Thức & Vô Ký


 Như Lý tác ý

Hỏi: Thưa Thầy, cho con hỏi: hiểu tác ý thế nào cho đúng?

- Trước hết cần xác định “tác ý” được dịch từ manasikāra hay từ cetanā, vì đôi lúc cả hai thuật ngữ Pāli này đều được dịch là tác ý như nhau. Khi nói “như lý tác ý” hoặc “phi như tác ý” thì biết đó là manasikāra, còn khi nói “tác ý thiện” hoặc “tác ý bất thiện” thì đó là cetanā. Nếu nghi ngờ một thuật ngữ Phật học Hán Việt thì nên tra lại gốc cổ ngữ Pāli hoặc Sanskrit mới hiểu chính xác được.

Trải qua phiền não thấy được Bồ-đề


Có chút đắng chút cay
Cho đời thêm hương vị
Dù thăng trầm, đổi thay
Pháp tánh vẫn như thị.

Sự không Sinh Diệt của Tánh Biết - Hoạt động của bản ngã & Tâm Từ

Sự không Sinh Diệt của Tánh Biết

Hỏi: Xin Thầy dạy rõ sự không Sinh Diệt của Tánh Biết ạ?

- Cụm từ “không sinh không diệt” thường bị hiểu lầm là thường tồn bất biến. Không phải chỉ Tánh Biết mà ngay cả Bốn Nguyên Tố Vật Chất (Tứ Đại) cũng có tánh không sinh không diệt. Chẳng hạn như tánh lửa đâu có sinh diệt. Nếu nói lửa diệt thì tại sao khi bật diêm quẹt lại có lửa, nếu lửa đã diệt rồi thì dù cho làm bất cứ gì đi nữa cũng không có lửa, nên rõ ràng là lửa không diệt.

Nhận Thức đúng về "Chuyển Hóa & Cứu Độ - Tiểu Ngã & Đại Ngã"

Chuyển hoá tự thân và chuyển hoá bên ngoài

Hỏi: Theo con nghĩ dù pháp môn tu nào cũng đều có chung một mục đích là đạt được sự yên bình, an lạc và tự tại của mình, nếu muốn đạt được như vậy con người phải giải phóng mọi xiềng xích nô lệ của thân và tâm. Giải phóng nô lệ của tâm bên trong là thoát khỏi tham sân si làm cho mình phiền não, và giải phóng nô lệ của thân bên ngoài là thoát khỏi áp bức bóc lột từ xã hội làm mình khổ đau. Có phải mục đích an lạc hạnh phúc ngay hiện tiền của người tu hành là thoát mọi xiềng xích nô lệ tinh thần và thể xác như đã nêu trên?

Có bao nhiêu thực tánh để kiến

... Kiến tánh thì có thể kiến đi kiến lại nhiều lần mới có thể triệt ngộ, chứ pháp nhãn xa trần ly cấu nơi tâm A-la-hán thì không cần phải kiến tánh, đơn giản chỉ vì tánh đã hiện toàn chân thì cần gì phải kiến nữa.
(Một sinh viên khác hỏi:)
- Sư vừa nói “Kiến tánh thì có thể kiến đi kiến lại nhiều lần”, sư cũng nói kiến tánh là thấy thực tánh, vậy có bao nhiêu thực tánh để kiến, nếu một thì không cần kiến nhiều lần, nếu khác thì sao gọi là thực tánh?

UẨN VÀ KHÔNG


“ Nầy Xá-lợi tử! Sắc chính là không, không chính là sắc, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc, thọ, tưởng, hành, thức cũng đều như vậy”. (Tâm kinh Bát-nhã)
Cái gì là sắc, cái ấy là không, cái gì là không, cái ấy là sắc.
Khi nói đến sắc, thì năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) và “không” đã có ở trong sắc. Thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy. Có nghĩa là mỗi thành tố (uẩn) đều chứa đủ năm thành tố và “không”. Và cả “không” cũng không nằm riêng ngoài năm thành tố, không có năm thành tố thì cũng không có cái gọi là “không”.
Thế giới được tạo lập từ uẩn. Đời sống của chúng ta được xây dựng và bị bao vây bởi uẩn. Chỉ có tự do khi nào chúng ta nhận ra rằng uẩn là không, uẩn là giải thoát.

Yếu tố Tự Nhiên và Vô Tâm


Hỏi: Con có trải nghiệm về sự thấy của con, nhất là sau khi phạm sai lầm lương tâm con dằn vặt đau khổ, cộng thêm đầu căng thẳng và đau bao tử. Nhờ thư giãn buông xả và làm việc gì cũng thận trọng, quan sát… con thấy trong con chuyển hẳn hoàn toàn, không còn đau khổ nữa. Thật đúng như trong bài kệ của Thầy con đọc được:
Vô minh và tham ái...
Diệt tận bằng trí tuệ
Kính mong Thầy chỉ dạy thêm?

Tiến trình tương quan giữa lý và sự trong kinh Hoa Nghiêm

Thời xưa, Lão Tử cũng đã từng than: “Mất đạo mới đến đức, mất đức mới đến nhân, mất nhân mới đến nghĩa,  mất nghĩa mới đến lễ. Ôi!  lễ ấy là sự mỏng manh của lòng trung tín mà là đầu mối của  hỗn loạn…”.
Đó cũng chính là thời mạt pháp trong Phật Giáo chúng ta! Sự xuống cấp từ Đạo đến Lễ cũng như từ Thực Tánh Pháp đến kinh luận hậu sinh diễn ra như sau:

Tâm an bình

Nếu có lúc nào ngồi tĩnh lặng, dừng suy nghĩ một chút và nhìn lại tâm mình, bạn sẽ ngạc nhiên thấy mình đang cảm thấy an bình nơi tâm. Có thể bạn cũng đồng ý điều đó, nhưng lại sẽ phản bác ngay rằng sự an bình đó chỉ là thoáng qua thôi. Điều đó cũng tạm cho là đúng, nhưng nếu xét kỹ hơn, bạn sẽ thấy trạng thái an bình này, dù thoáng qua hay không, cũng đã có sẵn nơi bạn, vì bạn đâu cần phải cố gắng làm gì mà vẫn có nó, phải không?
Chúng ta sinh ra bản chất là đã có một tâm an bình, nếu không, làm sao ta có thể cảm nhận như thế được?

Bạn không cần phải chạy đôn chạy đáo lo hành thiền để tìm kiếm sự an bình, cũng không cần phải học từ người nào hay sách nào để được an bình như vậy.

SỰ TRUYỀN THÔNG KHÔNG LỜI

"Phật tánh của thầy luôn luôn chiếu sáng từ thầy mặc dù thầy không thể tự thấy. Nó luôn luôn trong sáng và không có lượng bụi nào có thể vấy bẩn nó được... Con Đường vào cái Không Cùng nằm ở phía bên kia cái nhìn của thầy. Hãy nhìn vào bên trong để thấy Phật tánh của mình đang chiếu sáng!"

Luân Hồi & Tái Sinh

Hỏi: Thưa Thầy,  luân hồi thật sự được hiểu thế nào trong Phật Giáo, hay vấn đề này bị nhầm lẫn với thuyết tái sinh trong Bà La Môn Giáo và một số tín ngưỡng Tây Phương, vì từ Hán Việt "tái sinh" tiếng Pháp viết là "réincarnation" là sự lặp lại về đơn vị gốc, ví dụ: Người giàu nghèo sang hèn v.v... cứ thế trở lại nguyên gốc. Còn tiếng Phạn saṃsāra là luân hồi là lang thang, trôi nổi.
Nếu dùng bật lửa đốt cháy cây nến, điều kiện tạo lửa từ bật lửa sẽ gồm đá đánh lửa, hộp nhựa đựng khí gas, ống thông nhau, ống dẫn ga, bánh xe tạo lực ma sát vào đá lửa, vô số phân tử hóa học trong khí gas, môi trường xung quanh v.v... Trong khi các duyên bắt lửa của ngọn nến chỉ có 2 yếu tố cơ bản gồm thân đèn làm bằng sáp và tim làm bằng vải... Vậy ngọn lửa từ bật lửa có quan hệ gì với ngọn lửa của cây nến? Như thế luân hồi không phải là sự tái sinh nguyên bản mà là tâm lang thang trôi lăn chìm nổi vì tham sân si, không biết tàm quý để rồi chúng sanh cứ mãi bị cái vòng xoay đó làm cho đau khổ?

Sự vận hành của 18 giới

Trong Bát-nhã Tâm Kinh có đoạn: vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thanh, hương, vị,  xúc, pháp, nãi chí vô ý thức giới chính là nói đến 18 giới, cái mà chúng ta đang xem xét sự vận hành của nó đây.
Trong các bộ kinh chính thống của cả Nguyên Thủy, Tiểu Thừa và Đại Thừa đều chỉ nói sáu thức. Mãi đến 900 năm sau Đức Phật Niết-bàn, luận sư Vô Trước và Thế Thân mới đề cập đến mạt-na thức và a-lại-da thức trong môn Duy Thức Luận nổi tiếng của ông.
Ở đây chúng ta nên lưu ý một điểm là, sở dĩ truyền thống  Abhidhamma Nguyên Thủy hay các tông phái trước đó không nói đến hai thức này, vì không xem đó là những tâm thức riêng mà chỉ là những giai đoạn đóng vai trò tác dụng trong tiến trình của một tâm mà thôi.

Bộ Nhớ Con Người & Vũ Trụ Tâm


Hỏi: Khi chánh niệm tỉnh giác diễn ra tự nhiên không cần cố gắng, thì tiếp theo là thấy ra vô thường, khổ và bản ngã phải không ạ? Từ khi thực hành con hay quên đi chữ nghĩa, chỉ nắm lý và thấy sự thôi, như vậy có đúng không ạ?

-  Đúng. Có trí nhớ là tốt nhưng đôi khi nhớ quá nhiều chữ nghĩa cũng không hay gì, nên quên bớt ngôn từ đi, chỉ cần nắm được (thấy ra, thực chứng) cốt lõi lý và sự thôi lại càng tốt hơn. Thấy ra cốt lõi tinh tuý của sự thật mới có sự sáng tạo. Nếu nhớ từng lời từng chữ - tầm chương trích cú - như mọt sách rồi nhìn mọi sự mọi vật qua lăng kính khái niệm ngôn từ đã có sẵn thì liền đánh mất khả năng khám phá đầy sáng tạo. Còn như không nhớ gì cả, nên khi gặp chuyện, trực diện với sự kiện bất ngờ mà ứng tiếp tự nhiên, hoàn toàn mới mẻ.

Mục Đích thật sự của Đạo Phật

Hỏi: Thưa thầy sao gọi là tham thiền và sao gọi là hành thiền, thiền thế nào mới đúng?

- Có điều lạ là không biết tại sao người xưa lại nói Tham Thiền và Hành Thiền để rồi vô tình người sau hiểu lầm mà biến thành "Tham lam thiền" và "Hành hạ thiền".
Chúng ta cần biết mục đích thật sự của Đạo Phật là gì, Đạo Phật không như những Tôn giáo khác hay một số phương pháp hành trì khác. Đa số hành trì với mục đích trở thành hay đạt được lý tưởng sở cầu gì đó. Thí dụ muốn Tiểu ngã thành Đại ngã, muốn đến Thiên Đàng, muốn đắc Định, đắc Tuệ này Tuệ kia hoặc muốn thành, Phật thành Bồ Tát, muốn tới cõi Cực Lạc, Niết Bàn v.v...

Hoa nở bên hàng giậu

Chúng ta có một thói quen tìm kiếm, phân tích và tạo dựng nên những hạnh phúc theo ý mình, thay vì biết tiếp nhận tự nhiên trong tĩnh lặng ... Chúng ta có thói quen muốn sửa đổi thực tại để sắp đặt hạnh phúc theo sự phân tách và lý luận của mình. Nhưng dầu ta có khéo léo đến đâu thì đó cũng không còn là một thực tại như nó đang là nữa. Và rất nhiều khi những khổ đau phát sinh, là do sự tìm cầu hạnh phúc và trốn tránh thực tại đang có mặt, của mình...

CHÂN KHÔNG DIỆU HỮU - SỰ TƯƠNG QUAN TUYỆT VỜI GIỮA KHOA HỌC VÀ PHẬT GIÁO

Chân không-Diệu hữu là một chìa khóa để hiểu nhận thức luận về bản thể và hiện tượng của Phật giáo. Vì mọi hiện tượng xuất phát từ “Không” nên nó không có một bản chất trường tồn và riêng biệt, đó là thuyết Vô ngã. Chỉ có Ngũ uẩn đang vận hành, không có người vận hành chúng. Tương tự, Hawking cho rằng có sự sáng tạo nhưng không có ai sáng tạo cả. Thuyết Vô ngã khó hiểu cho những ai mới làm quen với đạo Phật. Cũng thế, vũ trụ tự sáng tạo và sáng tạo một cách tuyệt diệu, nhưng không có đấng sáng tạo. Đó là điều cũng khó hiểu cho nhiều người phương Tây.

Thế nào là Chân không - Diệu hữu? - Thiền sư Thích Duy Lực

Chân không diệu hữu thuộc về giáo môn. Giáo môn nói đến tự tánh về có và không, không là chân không, có là diệu hữu ý là cái “có” chẳng phải thật có, cái “không” chẳng phải thật không, là muốn mọi người không có chấp thật. Vì chấp thật là bệnh của chúng sinh, sở dĩ có cái khổ sinh tử luân hồi đều do bệnh chấp thật sinh ra. Tự tánh chẳng thể dùng lời nói tỏ bày, nói "Chân không Diệu hữu" cũng là phương tiện tạm thời mà thôi.
Vậy thế nào là "Diệu hữu", thế nào là "Chân không"?

Bước vào thiền Vipassana

Để thực hành thiền Vipassanā không nhất thiết
phải đạt tới tận an chỉ định, song tâm bạn vẫn cần phải có một mức độ ổn định và yên tĩnh nhất định.


Thâm chí ngay cả khi không có được mức định đó, bạn vẫn có thể hành thiền với một đề mục Vipassanā. 

... Lúc đầu bạn nghĩ "Tôi đang thở". Không khí đang đi vào, đi ra. Tôi cảm nhận được nó ở gần lỗ mũi. Sau một thời gian bạn quên mất mình đang thở. Không còn "tôi" và không còn hơi thở nữa. Không còn hơi thở ra, không còn hơi thở vào. Không có cả mũi nữa. Chỉ có cảm giác và chánh niệm, nó trở thành cảm giác thuần tuý và chánh niệm thuần tuý, bạn không còn nghĩ đến cảm giác nữa. Bạn tiếp xúc trực tiếp với cảm giác đó và nó chỉ là cảm giác,

HUYẾT MẠCH LUẬN


... Nếu không thấu rõ được tự tâm thì tụng đọc kinh sách gì cũng chỉ là hư văn, không dùng vào đâu được.
Nếu cốt tìm Phật, trực tiếp cần thấy tánh.
Tánh tức là Phật.
Phật là người tự tại, là người vô tác.
Nếu không thấy tánh thì suốt ngày lăng xăng cầu cạnh, tìm kiếm Phật ở ngoài, đời nào gặp được, dù rằng rốt cuộc không một vật nào khá hơn.
Nếu cần thông hiểu nên tham vấn bậc thiện trí thức, nên thiết tha mà tu, công khó mà cầu, đem tâm hội giải lớn vấn đề lớn về sanh tử, đừng bỏ trôi suông, tự phỉnh mình vô ích.
Ví châu báu chất cao như núi, bà con nhiều như cát sông Hằng, mở mắt thấy đó, nhắm mắt thấy gì đâu? Mới hay mọi pháp hữu vi đều là mộng mị. Nếu chẳng gấp tìm thầy, ắt uổng kiếp sống buông xuôi trong khi tánh Phật mình vẫn sẵn có.

Sợ hãi là chiếc cầu giữa hai bờ Bản ngã và Cái chết

Sợ được làm từ cái gì? Nó bao giờ cũng có đó đằng sau góc kia, nhưng khi tôi quay mặt vào nó, nó chỉ là cái bóng. Nếu nó là không thực chất, làm sao nó xoay xở có sức mạnh thế đối với tôi?
Sợ là không bản chất như cái bóng của bạn, nhưng nó có. Cái bóng cũng tồn tại - không bản chất, tiêu cực, nhưng không phải là không tồn tại, và đôi khi cái bóng có thể có tác động lớn lên bạn. Trong rừng rậm khi đêm lại gần bạn có thể bị kinh hãi về cái bóng riêng của mình. Tại chỗ đơn độc, trên con đường đơn độc, bạn có thể bắt đầu chạy bởi vì cái bóng của riêng mình. Việc chạy của bạn sẽ là thực, việc trốn của bạn sẽ là thực, nhưng nguyên nhân sẽ là không bản chất.