HƯƠNG VỊ CỦA CHỨNG NGỘ

...Phật nói: "Pháp của ta chẳng phải là pháp mà chỉ là tầm nhìn. Ta không trao cho các ông bất kỳ qui tắc lập sẵn nào, ta không trao cho các ông hệ thống nào. Ta chỉ trao cho các ông một cách tiếp cận thực tại. Ta chỉ trao cho các ông chìa khóa mở cửa. Ta không nói điều gì về cái các ông sẽ thấy khi mở cửa. Chẳng thế nói được gì về nó cả".


Bạn hãy nghĩ về một người luôn sống trong hang tối, không biết gì về ánh sáng, không biết gì về màu sắc, chưa bao giờ nhìn thấy mặt trời và mặt trăng. Làm sao bạn có thể kể cho người đó về cầu vòng? Làm sao bạn có thể kể cho người đó về các ngôi sao? Làm sao bạn có thể mô tả cho người đó về hoa hồng? Điều ấy không thể được? Và bất kỳ cái gì bạn nói với người đó, nếu người đó hiểu nó, điều đó sẽ thành sai. Người đó tạo ra học thuyết và điều đó sẽ sai.
Cho nên Phật nói: "Ta không trao bất kỳ pháp nào cho các ông. Ta chỉ trao cho các ông chiếc chìa khóa mở cửa, để cho mọi người có thể đi ra khỏi hang tối của con người mình và các ông có thể tự thấy hoàn cảnh là thế nào: yatha bhutam, cái đang đấy. Chẳng có gì đã được nói về nó cả, đó là lý do tại sao nó không phải là một pháp. Phật không phải là một triết gia. Ngài là thầy chữa. Điều đó đích xác là điều ngài đã nói: Ta là thầy chữa, không phải là triết gia".
Triết gia là người cư liên tục nói về ánh sáng và màu sắc cho người mù, cứ làm cho người đó càng lẫn lộn và bối rối. Người mù không có khả năng hiểu biết về ánh sáng. Phật nói: "Ta không định triết lý về ánh sáng, ta đơn giản cho ông một phương thuốc, ta sẽ cố gắng chữa mắt ông. Thế rồi ông có thể tự mình nhìn thấy". Điều này được gọi là chánh pháp (dhamma). Điều này là một tầm nhìn hoàn toàn khác.
Điều thứ hai cần hiểu, Phật bảo ông Subhuti: "Ông chớ nói như vậy". Tại sao? Bởi vì ý niệm này vẫn thường nảy sinh trong mọi người, ngay cả ở những người như ông Subhuti, những người có phẩm cách tâm linh cao nhất - rằng họ là đặc biệt, rằng thời đại của họ là đặc biệt hy hữu, rằng về sau này sẽ chẳng có ai đạt đến độ cao như vậy. Đấy là thái độ bản ngã, một thái độ bản ngã tinh vi. Nó chỉ ra nhiều điều về ông Subhuti. Ông subhuti còn mang một bản ngã tinh vi.
Trải qua các thời đại, hầu hết nhiều người đều mắc bịnh này, họ cho rằng thời đại của họ là cái gì đó đặc biệt. Chẳng thời nào đặc biệt cả. Điều thiêng liêng có sẵn trong mọi thời đại. Ở Ấn Độ, người Hindu nói rằng ngày nay không có ai có thể chứng ngộ được, bởivì nó là Kali Yuga, thời mạt pháp, thời kỳ cuối cùng, thời kỳ dơ bẩn nhất - không ai có thể trở nên chứng ngộ được. Người Jaina nói rằng không ai có thể trở thành chứng ngộ bởi vì thời nay là Pancham Kal, thời kỳ thứ năm. Ngay cả các Phật tử biết rõ kinh Kim Cang, cũng nói rằng thời đại ngày nay không còn ai có thể chứng ngộ được, và thậm chí họ còn cố gắng diễn giải những lời của Phật theo cách dường như là chẳng ai có thể chứng ngộ được.
Tối hôm nọ tôi vừa đọc một bài bình về kinh Kim Cương. Bài bình nói: "Vâng, Phật nói rằng sẽ có một số người có khả năng hiêu được một chút xíu về chân lý và phước đức của họ sẽ lớn lao - nhưng phước đức không phải là chứng ngộ. Phước đức chỉ là nền tảng".
Cho nên người diễn giải, người bình luận nói: "Trong thời đại này không ai có thể trở nên được chứng ngộ, nhiều nhất là các bạn có thể đạt tới phước đức nào đó. Các bạn phải đợi đến thời kỳ thích hợp mới trở nên chứng ngộ. Phước đức của các bạn rất có ích, nó sẽ đặt nền móng, nhưng ngay bây giờ, các bạn chưa có thể xây điện thờ được". Đ
ó là cách thức mọi người đang theo.

Điều Phật đang nói đơn giản là sự kiện này, rằng tất cả các thời đại đều như nhau đối với người tìm kiếm tâm linh - và cũng thế cho người không tìm kiếm. Vào thời của Phật đã có hàng triệu người chẳng bao giờ trở nên chứng ngộ, không giống như mùa xuân - khi mùa xuân tới mọi cây cối đều đâm chồi. Nếu đây là trường hợp thì tất cả những người vào thời Phật đều đã chứng ngộ. Chỉ có vài người đã chứng ngộ thôi. Cho nên điều ấy không giống như mùa xuân, đấy không phải là vấn đề hoàn cảnh, không phải thời đại đặc biệt làm cho người ta chứng ngộ.
Những người tìm và kiếm, họ sẽ đạt tới. Những người không tìm và kiếm, họ sẽ chẳng đạt tới, dù cho thời đại có thuận lợi, điều ấy cũng chẳng thành vấn đề. Và thời đại thì như nhau, thời đại chẳng tốt cũng chẳng xấu. Thời đại chẳng ủng hộ cho chứng ngộ mà cũng không chống lại chứng ngộ. Bất kỳ điều gì bạn muốn cuộc đời mình trở thành, thì thời đại sẽ cho bạn cơ hội.
Thời đại là vô tư. Nó không áp đặt bất cứ cái gì lên bạn, nó đơn giản cho bạn tự do. Bạncó thể trở nên chứng ngộ, chứng ngộ như bạn ham muốn, hay bạn có thể không muốn chứng ngộ như bạn quyết định. Sự tồn tại hợp tác với bạn, nhưng cái ý niệm này cứ nảy sinh đi nảy sinh lại mãi. Tôi đã bắt gặp nhiều kinh sách trên thế giới, mọi người nghĩ: "Điều gì sẽ xảy ra cho người khác trong tương lai?".
Cái ý niệm này thậm chí còn ăn sâu cả vào người thường. Bạn có thể gặp bất kỳ cụ già nào và cụ ấy đều nói về thời đại của mình. Thời hoàng kim, những ngày oanh liệt mà cụ đã sống qua là cái gì đó đặc biệt; bây giờ chẳng có gì trong thế giới cả. Và bạn hãy nhớ, khi về già bạn sẽ kể lại cho con cháu bạn cũng những câu chuyện dài dòng, câu chuyện chán ngấy và bạn sẽ nói: "Thật là vàng son".
Tôi đã nghe nói về một cụ già tám mươi tuổi cùng với vợ, gần bảy mươi tám tuổi đến Paris. Họ đi khắp thành phố, ông cụ bảo: "Chà, mọi vật đều thay đổi cả. Paris không còn là Paris nữa. Năm mươi năm trước tôi đã tới đây khi tôi ba mươi tuổi - đó mới thật là Paris".
Bà cụ bật cười và vì phụ nữ thì trần tục hơn, thực tế hơn, bà nói: "Tôi thì nghĩ khác - Tôi cho rằng ông không còn là ông nữa,có thế thôi. Paris vẫn như xưa. Ông hãy xem bọn thanh niên kia - họ cũng vui chơi như ông lúc còn trẻ tuổi đó thôi".
Bây giờ đối với cụ tám mươi, Paris chẳng có nghĩa gì. Paris là cuộc sống về đêm với người tám mươi tuổi, nó chẳng còn liên quan. Cụ không còn ngu xuẩn để tận hưởng nó. Cụ không còn tuổi trẻ để ngu xuẩn như thế. Những giấc mơ đã biến mất. Và tôi nghĩ bà vợ cũng phải - "Ông không còn là ông nữa. Paris vẫn như xưa".
Điều ấy cũng xảy ra cho bạn nữa. Bạn bắt đầu nghĩ rằng thời thơ ấu của mình là tuyệt diệu, bây giờ mọi việc đều không tốt được như thế. Bạn cảm thấy tiếc cho lũ trẻ đang sống ngày nay. Bạn không biết đó thôi, chúng cũng sẽ tiếc cho con cháu chúng nữa. Điều này bao giờ cũng như vậy cả. Và mọi người nghĩ thời đại của mình có phẩm chất đặc biệt nào đó, nó là cách mạng.
Và tôi đã nghe, đây là những lời đầu tiên Adam thốt lên khi Adam và Eva bị tống ra khỏi vườn địa đàng. Anh ta bảo Eva: "Này em hãy xem, chúng mình đang sống, chúng mình đang trải qua những thời đại cách mạng vĩ đại". Dĩ nhiên bị tống ra khỏi vườn địa đàng phải là một cuộc khủng hoảng lớn, không một ai đã trải qua khủng hoảng như vậy.
Phật bảo: "Subhuti, ông chớ nói vậy". Tại sao? - Bởi vì tất cả thời đại đều có cùng phẩm chất. Không gian và thời gian không bị bạn làm biến chất, chúng không thể bị biến chất được. Bạn không thể nào bắt giữ được thời gian, thì làm sao bạn có thể biến chất nó được? Chúng không bị ô nhiễm. Bạn có thể làm ô nhiễm không khí, nhưng bạn không thể làm ô nhiễm thời gian.
Làm sao bạn có thể làm ô nhiễm thời gian? Bạn còn không bắt giữ được nó nữa là. Ngay lúc bạn nắm bắt nó, thì nó đã trôi qua. Ngay lúc bạn trở nên nhận biết về một khoảnh khắc, thì khoảnh khắc đó không còn nữa. Nó đã trở thành quá khứ, trở thành lịch sử rồi. Bạn không thể làm ô nhiễm thời gian được. Thời gian là một trong những thứ thuần khiết nhất, nó bao giờ cũng thuần khiết.
Đó là lý do tại sao Phật bảo: "Subhuti, ông chớ nói vậy! Cả trong thời vị lai mạt pháp cũng có những chúng sanh sẽ hiểu được chân lý...". Bao giờ cũng có người sẽ hiểu rõ chân lý, vì chân lý không phải là phẩm chất đôi khi xảy ra và đôi khi không xảy ra. Chân lý bao giờ cũng có đó. Đấy chính là điều được gọi là chân lý - cái bao giờ cũng có đấy.
Chân lý chẳng liên can gì đến thời gian, nó là vĩnh hằng. Bạn có thể đạt tới chân lý ban ngày, ban đêm hay bạn có thể đạt tới chân lý trong bãi chợ, trên đỉnh Hymalaya, bạn có thể đạt tới chân lý khi là đàn ông, đàn bà, trẻ em, thanh niên hay người già. Bạn có thể đạt tới chân lý bất kỳ lúc nào, bất kỳ chỗ nào, vì chân lý bao giờ cũng có sẵn, bạn chỉ phải trở nên sẵn có cho nó.
Và Phật nói: "Chỉ một ý nghĩ về niềm tin thanh thản cũng có thể làm thay đổi một con người". Chỉ một niềm tin thanh thản... Nhưng niềm tin là gì, theo nghĩa những lời này của Phật? Niềm tin thông thường là sợ hãi, niềm tin không là gì ngoài sợ hãi. Nếu bạn đến các nhà thờ, các đền chùa và gurudwaras, bạn sẽ thấy những con người run sợ, những con người sợ hãi - sợ hãi sự sống và sợ hãi cái chết, và chỉ chăm chăm đi tìm nơi trú ẩn vào một vị thần nào đó; cảm thấy bất lực, đi tìm an ninh nào đó ở đâu đó, họ thiếu bố, mẹ và đang phóng chiếu một người bố hay người mẹ nào đó trên trời.
Họ còn chưa chín chắn, họ không thể sống mà thiếu bố mẹ. Bố có thể chết, mẹ có thể không còn sống nữa, nhưng họ vẫn là trẻ con, họ cần cái váy nào đó để bám vào, họ cần ai đó. Họ không thể sống theo cách của riêng mình, họ không thể tin cậy vào chính mình.
Khi bạn sợ hãi vì nỗi sợ của mình, bạn sẽ trở thành tôn giáo, tôn giáo này là hư huyễn. Tôn giáo này là một loại tôn giáo bắt chước, giả mạo. Từ nỗi sợ này mà sinh ra việc bắt chước. Phật muốn ngụ ý điều gì khi ngài dùng từ niềm tin? Từ của ngài là shaddha. Dạng chữ Phạn của shaddha là shraddha; nó không thực sự có nghĩa là niềm tin, nó có nghĩa là tự tin, niềm tin vào chính mình. Nó là một tôn giáo hoàn toàn khác. Phật gọi nó là chánh đạo, còn tôn giáo khác ngài gọi nó là tà đạo.
Nếu bạn tiếp cận với thực tế từ sợ hãi và run rẩy, thì bạn đang tiếp cận theo cách sai lầm, và khi bạn đã sai lầm thì bất kỳ cái gì bạn thấy và cảm nhận đều sẽ sai lầm. Mắt bạn sai, tim bạn cũng sai. Chân lý không thể được biết tới từ sự sợ hãi, chân lý chỉ có thể được hiểu tới từ can đảm. Shaddha là cần có, sự tự tin vào chính mình là cần có, sự tin cậy vào chính bản thể mình là cần có.
Người ta nên tiếp cận tới thực tại từ sự tin cậy chớ không phải từ sự sợ hãi. Bản chất của niềm tin hay sự tin cậy là sự buông bỏ. Người run sợ chẳng bao giờ có thể buông bỏ được. Người đó bao giờ cũng phòng thủ, tự bảo vệ mình; người đó bao giờ cũng đấu tranh, cũng chống đối. Ngay cả lời cầu nguyện của người đó cũng không là gì khác hơn một cách thức để bảo vệ mình.
Con người của niềm tin biết cách buông bỏ, biết cách buông xuôi, biết cách thả mình theo dòng chảy của một con sông và không thúc bách nó. Người đó trôi theo dòng chảy tới bất kỳ đâu nó đưa tới. Người đó có lòng dũng cảm và niềm tin rằng người đó có thể đi cùng dòng nước.
Đây cũng là kinh nghiệm và quan sát của tôi nữa. Bất kỳ khi nào một người run sợ tới tôi, người đó đều không có khả năng buông xuôi, mặc dù người đó nghĩ mình sẽ mạnh mẽ đến mức không thể buông xuôi được. Chẳng ai thích cảm thấy mình yếu đuối, đặc biệt là những anh chàng thiếu quả quyết thì chẳng bao giờ thích điều đó. Họ không muốn nhìn nhận rằng họ yếu đuối, rằng hèn hèn nhát. Họ tởng mình rất mạnh mẽ - họ không thể buông xuôi được.
Quan sát riêng của tôi là người nào càng mạnh mẽ thì càng dễ là người buông xuôi. Chỉ người mạnh mẽ mới có thể buông xuôi, vì người đó tin cậy vào chính mình, tin vào chính mình, biết mình có thể buông bỏ. Người đó không hề lo sợ. Người đó sẵn sàng thám hiểm cái chưa biết, sẵn sàng đi vào những vùng chưa lập bản đồ. Người đó xúc động bởi cuộc hành trình vào cái chưa biết. Người đó muốn nếm trải nó vói bất kỳ giá nào và mạo hiểm nào. Người đó muốn sông trong hiểm nguy.
Con người của niềm tin bao giờ cũng sống trong hiểm nguy. Hiểm nguy là chỗ trú của người đó, bất an là an toàn của người đó và cuộc truy tìm không mệt mỏi là tình yêu duy nhất của người đó. Người đó muốn thám hiểm. muốn đi tới chính chỗ tận cùng của sự tồn tại. Người đó muốn biết nó là cái gì? "Cái gì bao quanh ta? Cái mà ta luôn gọi là "tôi" là cái gì vậy? Ta là ai?"
Người mạnh mẽ luôn sẵn sàng buông trôi. Người đó biết rằng không cần phải sợ hãi. "Mình thuộc về sự tồn tại, mình không phải là kẻ xa lạ ở đây. Sự tồn tại đã là mẹ mình, sự tồn tại khong thể thù nghịch với mình. Sự tồn tại đã đem mình tới đây, mình là sản phẩm của sự tồn tại. Sư tồn tại có định mệnh nào đó phải hoàn thành qua mình".
Người mạnh mẽ bao giờ cũng cảm thấy định mệnh đó ở kia: "Mình ở đây để làm điều gì đó mà sự tồn tại cần và không ai khác hơn mình có thể thực hiện được nó; bằng không tại sao mình được sinh ra?" Cho nên người đó bao giờ cũng sẵn sàng đi vào bóng tối, để tìm kiếm. Điều này Phật gọi là shaddha, niềm tin. Tốt hơn nên dịch nó là tin cậy.
"Chỉ một ý nghĩ về niềm tin thanh thản...". Và thế rồi ngài còn thêm một điều kiện nữa cho nó - niềm tin thanh thản. Bạn có thể có một loại tin cậy; nó có thể khong thanh thản, nó có thể đầy náo động. Điều đó chẳng ích gì, điều đó sẽ không đưa bạn đi xa. Niềm tin phải thanh thản. Niềm tin phải đến từ sự tĩnh lặng, không phải từ cái ồn ào của tâm trí. Niềm tin không phải là tín ngưỡng. Tín ngưỡng bao giờ cũng ồn ào.
Bạn chọ tín ngưỡng này chống lại tín ngưỡng khác: dĩ nhiên có xung khắc, nó là sự lựa chọn. Quanh bạn có hàng nghìn tín ngưỡng đang khao khát sự chú ý của bạn: Công giao, Hindu, Hồi giáo, Phật giáo, Jaina giáo - hàng nghìn tín ngưỡng. Trên trái đất có ba trăm tôn giáo và mỗi tôn giáo lại có nhiều giáo phái. Bây giờ họ tất cả đều tranh nhau để kết nạp bạn, họ muốn sở hữu bạn và tự nhiên, tâm trí bạn trở nên rất lung lay và đắn đo. Chọn cái gì, bỏ cái gì và đi theo ai?
Và thậm chí nếu bạn lựa chọn trong sự ồn ào và náo loạn này, thì một phần tâm trí của bạn bao giờ cũng cứ nói: "Mình chọn không đúng rồi". Và phần đó sẽ trả thù. Sớm hay muộn phần đó sẽ khẳng định và sẽ phá vỡ con người của bạn, và bạn sẽ bị giằng xé.
Phật nói niềm tin thanh thản là cần có. Niềm tin thanh thản là gi? Niềm tin này không sinh từ chọn lựa mà từ sự hiểu biết. Mấy hôm trước tôi có nhận được thư của Chintana. Cô ấy nguyên là một nữ tu Công giáo và cô ấy đang bị giằng xé. Cô ấy không thể quyết định được liệu nên ở lại với tôi hay trở về tu viện của cô. Bây giờ bất kỳ cái gì cô làm đều xuất phát từ sự hổn loạn. Nếu cô quyết định ở lại với tôi, một phần tâm trí sẽ tiếp tục đấu tranh chống lại cô. Nếu cô quyết định trở về tu viện, một phần tâm trí cô sẽ cứ muốn ở lại đây.
Bất kỳ cái gì cô chọn đều sẽ sai. Chính sự lựa chọn của cô cũng xuất phát từ rối loạn và lo lắng. Nó sẽ là một loại kềm nén. Nếu cô chọn tu viện thì cô sẽ phải kềm nén tình yêu với tôi. Nếu cô chọn tôi, cô ấy sẽ phải kềm nén ham muốn về tu viện - sự xa lánh, cô lập, sự bảo vệ, sự thoải mái, tiện nghi của tu viện.
Bây giờ Phật sẽ gợi ý gì cho cô? Phật sẽ gợi ý hãy thiền đi, đừng chọn gì hết. Không phải vội vàng gì. Hãy vô chọn lựa. Hãy thiền, hãy cầu nguyện, hãy trở nên ngày càng im lặng. Một khoảnh khắc sự chọn lựa sẽ tới từ thanh thản. Không phải là bạn đang chọn chống lại bất kỳ phần nào của mình, chỉ từ sự thanh thản mà nó nở hoa như bông sen. Đây là việc nở hoa hoàn toàn, toàn bộ bản thể bạn cùng với nó. Đây không phải là việc chọn lựa phương án này chống lại phương án khác, đây chính là hương thơm của bạn. Thế thì bạn không bị giằng xé. Điều này Phật gọi là niềm tin thanh thản. Và ngài nói chỉ một ý nghĩ về niềm tin thanh thản cũng đủ làm biến đổi con người.
Đây cũng là gợi ý của tôi cho Chintana nữa. Hôm nay có thể cô ấy còn bị dày vò hơn, hôm nay là hai mươi lăm tháng mười hai - ngày lễ giáng sinh. Cô ấy sẽ bị giằng xé. Nhưng tôi sẽ không gợi ý cô ấy chọn tôi hay tu viện. Đừng chọn, hãy đợi đấy và kiên nhẫn. Hãy để Thượng đế chọn cho bạn. Bạn hãy thiền. Làm sao bạn có thể chọn lựa được? Bạn chưa đủ minh triết để chọn. Hãy cầu nguyện và chờ đợi.
Và đừng có chơi trò ranh mãnh - vì bạn có thể chơi trò ranh mãnh bằng tâm trí riêng của mình. Bạn sẽ có ý niệm của mình - bạn đã thực sự chọn - và rồi bạn có thể đợi, và rồi từ cửa sau bạn có thể áp đặt sự chọn lựa của mình và bạn có thể tin rằng đấy là từ Thượng đế. Không, khi nào tôi bảo bạn đừng chọn lựa thì bạn đừng chọn lựa. Hãy quên việc chọn đi. Làm sao bạn có thể chọn được?
Hãy thiền và hãy trở nên thanh thản, im lặng. Rồi một hôm khi trong tâm trí bạn không còn một ý nghĩ thì đột nhiên bạn sẽ cảm thấy cái gì đó đã được quyết định và bạn không phải là người quyết định nó, đây là quyết định của Thượng đế. Thế thì dù nó là bất kỳ cái gì, nó đều tốt.

***
Phật nói mọi thứ đều phải buông bỏ - chánh pháp, không chánh pháp, kinh nghiệm, kinh nghiệm lớn, những kinh nghiệm tâm linh và cuối cùng kể cả người kinh nghiệm nữa. Mọi thứ đều phải buông bỏ. Khi chẳng còn lại gì, thậm chí cả đến một dấu vết của bất kỳ cái gì, cả cái ý niệm giờ đây không còn gì cả... Nếu ý niệm này còn lại - rằng bây giờ chẳng còn lại gì - thì mọi thứ vẫn còn đó. Ý niệm này đủ để chứa đựng toàn bộ thế giới. Nếu bạn nói: "Giờ đây chẳng còn gì cả", thế là bạn đã lỡ vấn đề rồi. Thậm chí bạn không thể nói được vấn đề đó - rằng chẳng có gì ở đó. Ai có đó mà nói? Ai có đó mà quan sát? Chỉ có sự im lặng hoàn toàn, im lặng tuyệt đối.
Cho nên Phật nói rằng chánh pháp, tôn giáo cũng giống như một chiếc đò. Đây là những lời nói nổi tiếng của ngài. Phật nói trong Trung bô Kinh (Majihima Nikaya): "Này các Tỳ kheo, khi ta dùng hình ảnh chiếc đò, ta muốn nói rằng pháp cũng cần bỏ lại, không nên ôm giữ. Kẻ nào dùng chiếc đò để vượt qua một con sông lớn, bờ bên này đầy phiền não và sợ hãi, bờ bên kia là sự an lạc và ổn định, sau khi qua sông rồi không nên vác đò lên vai mà đi. Mặc dù chiếc đò rất có ích khi qua sông, nhưng đã qua sông rồi thì nên để đò lại, không dùng nữa. Này các Tỳ kheo, khi nghĩ đến hình ảnh chiếc đò, chúng ta phải buông bỏ cả chánh pháp và không chánh pháp".
Tất cả các phương pháp - Yoga, Mật tông - tất cả các kỹ thuật, tất cả các cách thiền, tất cả các lời cầu nguyện đều là những phương tiện để đạt tới bờ bên kia. Một khi bạn đã qua tới bờ bên kia rồi, chúng phải bỏ lại đàng sau. Hãy cảm thấy biết ơn, nhưng đừng vác chúng lên vai, bằng không bạn sẽ chỉ là kẻ ngốc.
Phật nói tiếp: "Thí dụ về chiếc đò chỉ ra rằng tất cả các pháp đều được xem như tạm bợ, như những phương tiện để đạt được mục đích. Thí dụ đó cũng có giá trị để tạo ra sự trống rỗng, sự phủ định của pháp. Việc so sánh với phương thức chữa bệnh minh họa cho hệ quả này. Khi bịnh đã khỏi rồi thì phải bỏ thuốc đi, vì dùng thuốc kéo dài chỉ làm cho người ta ốm nữa.
Phật nói: "Hệt như thế, phương thuốc có tên trống rỗng đã được đưa ra để chữa khỏi căn bịnh niềm tin vào sự tồn tại. Nhưng gắn bó với cái trống rỗng này thì cũng lại là một thứ bịnh hệt như gắn bó với sự tồn tại. Những ai vẫn tiếp tục dùng phương thuốc trống rỗng ấy sau khi đã phục hồi sức khỏe, thì chỉ làm cho họ ốm lại".
Bạn hãy nhớ, trước hết người ta phải vứt bỏ mọi thứ và trở thành trồng rỗng và rồi người ta phải vứt bỏ cả cái trồng rỗng đó. Cái trống rỗng đó chỉ là phương thuốc. Phật đã nói rất chí lý: "Ta là thầy chữa, không phải triết gia". Ngài không đem đến cho bạn học thuyết để bám víu vào. Và bất kỳ cái gì ngài cho bạn đều là tạm bợ, tùy tiện và một ngày nào đó nó phải vứt bỏ và quên đi.
Khi tất cả đều biến mất - cả thế giới lẫn thượng đế, cả vật chất lẫn tinh thần, cả than thể lẫn linh hồn, cả người và ta - khi tất cả đều biến mất và cuối cùng mất luôn cả cái ý niệm rằng tất cả đều biến mất, thì bạn đã đạt tới, bạn đã trở thành Bồ tát. Thế là làm sao nán lại bờ bên này, làm sao ở lại đây dù chỉ là một khoảnh khắc thôi?
Bạn sẽ phải tạo ra chittopad, một quyết tâm lớn: "Nhiều người đang lạng choạng trong bóng tối. Ta đã chứng ngộ - ta phải đem điều đó ra chia xẻ:. Từ chittopad đó, từ việc tảoa một tâm trí mới... bởi vì tâm trí cũ đã mất đi, và với tâm trí cũ đã mất đi, bạn không thể ở lại đây được. Bạn phải tạo ra tâm trí mới.
Hai từ cần được hiểu: một từ là đam mê, còn từ kia là từ bi. Cả hai đều có đam mê trong chúng. Đam mê là tâm trí cũ, tâm trí ham muốn, tâm trí đầy những ham muốn. Khi tất cả nhưng ham muốn đã biến mất và tâm trí cũ đã biến mất, bạn phải lập tức khởi lên từ bi để cho qua từ bi bạn có thể ở lại đây. Trong một chút ít thời gian bạn có thể giúp vài người để họ ngước mắt nhìn sang bờ bên kia. Trong chút ít thời gian bạn có thể hướng dẫn cho vài người, bạn có thể chỉ con đường.
Phật hỏi:
"Subhuti, ông nghĩ sao? Như Lai có thành Phật không?
Và Như Lai có thuyết pháp không?"
Ông Subhuti thưa: "Không".
Đó là một trong những phương pháp của Phật - đôi khi ngài hỏi các đệ tử: "Ông nghĩ thế nào, Subhuti" Ông có tin rằng ta đã chứng ngộ chân lý, đã được pháp và ta đã thuyết giảng chân lý cho mọi người không? Ông nghĩ thế nào?"
Như Lai có thành Phật không?
Và Như Lai có thuyết pháp không?"
Ông Subhuti thưa: "Không".
Rất dễ dàng rơi vào cái bẫy của Phật; câu hỏi này khó. Câu hỏi này thuộc kiểu cám dỗ người ta trả lời có: "Vâng, bạch Phật, ngài đã chứng ngộ, bằng không thì ai chứng ngộ được". Nhưng ngay cả ý niệm về sự chứng ngộ cũng không phải là tâm linh. Và Phật đang nói rằng chẳng có cái gì để chứng ngộ, và cũng không có ai chứng ngộ cả.
Và rất đơn giản để ông Subhuti nói: "Vâng, bạch Thế Tôn, ngài đã thuyết pháp như chưa từng ai thuyết pháp, ngài đã giảng như chưa từng ai đã giảng". Nhưng nếu không có cái gì để chứng ngộ thì cái gì có đấy để mà giảng? Nếu không có gì để chứng ngộ và không có ai để chứng ngộ, thì ai có thể giảng và cái gì có đấy để mà giảng?
Ông Subhuti không bị mắc bẫy bởi câu hỏi của Phật.
Ông Subhuti thưa:
"Không, theo chỗ con hiểu những gì Phật nói
Như Lai không thành Phật và
Như Lai cũng không thuyết pháp. Tại sao vậy?
Vì pháp của như Lai không thể nắm bắt được,
không thể nói được,
chẳng phải chánh pháp cũng chẳng phải không chánh pháp".
Cho nên trước hết ông nói: "Không, Như Lai không chứng ngộ, bởi vì, nếu như con hiểu lời đúng Phật nói, không có cái gì để chứng đắc cả. Làm sao có thể mô tả cái gì đó ở bên ngoài mọi vật và bên ngoài cả cái không nữa? Làm sao có thể giảng được nó? Cái đó không thể nghĩ bàn, không thể diễn đạt, vì nó chẳng phải có cũng chẳng phải không". Ngôn ngữ chỉ diễn tả được cái có hoặc không. Nó không thể nói được cái siêu việt lên cả hai.
Để kết thúc, ông nói thêm:
"Vì sao vậy?
Vì cái tuyệt đối làm nức lòng các bậc thánh hiền".
Cái tuyệt đối là cái vượt ra ngoài, cái siêu việt, cái bên ngoài ghét và yêu, cái vượt ra ngoài sống và chết, cái vượt ra ngoài ngày và đêm, cái vượt ra ngoài đàn ông và đàn bà, cái vượt ra ngoài địa ngục và thiên đàng, cái vượt lên tất cả các cặp nhị nguyên, cái đó là tuyệt đối - và cái tuyệt đối làm nức lòng các bậc thánh hiền. Cái tuyệt đối đó, cái siêu việt đó làm nức lòng bạn.
Chữ Phạn ày rất phong phú. Nó là prabhaveeta. Nó có rất nhiều nghĩa, nó hàm chứa một sự phong phú nghĩa. Nó có nghĩa "làm nức lòng", "tôn vinh", "rút lấy sức mạnh từ bi", "có ánh sáng của". Mặt trăng phản chiếu ánh sáng mặt trời - nó là prabhaveeta, nó chỉ là tấm gương.
Vị Phật cũng thế. Vị Phật là tấm gương trống rỗng. Ngài đơn giản phản ánh sự tồn tại như nó hiện thế - yatha bhutam. Ngài không nói gì cả. Tấm gương chẳng nói gì cả, tấm gương chẳng có gì để nói; nó đơn giản phản xạ. Nó không làm gì cả với cái đang có, nó đơn giản phản xạ mọi cái đang có - yatha bhutam.
Sự tồn tại được phản ánh nơi Phật. Cái tuyệt đối làm nức lòng, cái tuyệt đối được phản ánh. Phật chẳng làm gì cả. Thầy thực chỉ là tấm gương, thầy đơn giản phản chiếu cái hiện hữu. Thầy không có triết lý gì để thuyết giảng, không có học thuyết để rao giảng. Sự tồn tại là triết lý của thầy, cuộc sống là học thuyết của thầy. Thầy chẳng có gì để nhào nặn, thầy không có động cơ nào đi bất kỳ đâu. Bản thân thầy không có, đấy là cách thầy trở thành tấm gương.
Bồ tát đang ở điểm trở thành tấm gương. Nếu ngài tạo ra tâm trí mới, con đường mớ
i - chittopad - từ từ bi, ngài sẽ lưu lại ở bờ bên này thêm chút nữa. Điều này thật là một phép mầu bởi vì ngài không còn thuộc vào cõi thế gian này nữa. Thế gian không còn tồn tại trong ngài nữa, vậy mà điều đó xảy ra, phép mầu này xảy ra.
Sự hiện hữu của vị Phật ở đây trên bờ bên này...

Osho

Trích : Kinh Kim Cương của Phật Gautama